Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu Nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu chủ đề luận án, các công trình khoa học liên quan đến chủ đề Luận án được tổng quan thành các nhóm sau: 1. Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng Ở khía cạnh lí luận chung, những khái niệm, lí thuyết căn bản và nguyên lí trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD được đề cập khá chi tiết trong các nghiên cứu như: - Báo cáo “Thực thi trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các hiệp hội nghề nghiệp trong bảo vệ người tiêu dùng – cơ sở lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của ThS.
Viên Thế Giang và Lê Tuấn Tú tại Hội thảo “Các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng và quyền con người”: tác giả đã chỉ ra các tổ chức xã hội đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thực thi tốt trách nhiệm của các tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp là biện pháp bảo đảm quyền lợi cho người tiêu dùng. Sự tham gia của các tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ tạo “thế lực cân bằng”, là đối trọng tương xứng giữa người tiêu dùng và người cung ứng hàng hóa, dịch vụ. - Đề tài cấp Bộ năm 2006 với tiêu đề: “Bảo đảm quyền của NTD trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” của Viện nghiên cứu con người – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, do TS. Tường Duy Kiên làm Chủ nhiệm đề tài.
Đề tài đã phân tích và làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm quyền của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường định 9 hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể đề tài đã làm sáng tỏ khái niệm người tiêu dùng, phân biệt người tiêu dùng với khách hàng. Đặng Vũ Huân với bài viết “Pháp luật và vấn đề bảo vệ người tiêu dùng” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về pháp luật và tiêu dùng tháng 1 năm 2005, bài viết tiếp cận vấn đề bảo vệ NTD theo kinh tế học. Tác giả phân tích mối quan hệ kinh tế giữa NTD và tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường, từ đó có thể thấy NTD giữ vị trí rất quan trọng đối với nền kinh tế. Bài viết cũng đã chỉ ra một số nguyên nhân dẫn đến quyền lợi của NTD chưa được bảo đảm.
Trong đó, một trong những nguyên nhân cơ bản là do các quy định của pháp luật mang tính tổng quát, chung chung và chưa có cơ chế xử lý thích đáng đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ NTD. Bên cạnh đó, tác giả đã đưa ra một số kiến nghị mang tính vĩ mô nhằm tăng cường hiệu quả công tác bảo vệ NTD. - Bài viết “Một số vấn đề lý luận xung quanh luật bảo vệ người tiêu dùng” của PGS.TS Nguyễn Như Phát (2010) đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 2. Bài viết đã đề cập đến nhiều vấn đề trong dự thảo Luật bảo vệ quyền lợi NTD.
Trong đó, tác giả phân tích mối quan hệ giữa NTD với thương nhân, trong mối quan hệ này thì NTD luôn yếu thế “do tính chất xã hội của quan hệ tiêu dùng mà người tiêu dùng khó có thể có cơ hội trở thành tự do, bình đẳng vì họ buộc phải tham gia vào mối quan hệ với đặc tính truyền kiếp là “thông tin bất cân xứng”, chính vì vậy, pháp luật phải ưu tiên bảo vệ “kẻ yếu”. Cũng theo tác giả, pháp luật bảo vệ NTD hiểu theo nghĩa tổng quát là một hệ thống pháp luật có liên quan đến nhau mà đạo luật về bảo vệ quyền lợi NTD chỉ có giá trị tiên phong. Đồng thời, tác giả đã phân tích sự hình thành và những đặc điểm của điều kiện giao dịch chung, mối quan hệ giữa NTD và thương nhân trong việc thiết lập và thực hiện điều kiện giao dịch chung. Và qua đó, tác giả cho rằng cần thiết phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ điều kiện giao dịch chung.
10 - Cuốn “Tìm hiểu Luật bảo vệ NTD các nước và vấn đề bảo vệ NTD ở Việt Nam”, Nxb Lao động, 1999, do Viện Nhà nước và pháp luật biên soạn là một trong số những công trình tiên phong nghiên cứu vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam đồng thời là tài liệu tham khảo rất có giá trị đối với những nhà nghiên cứu quan tâm tới Luật bảo vệ NTD của một số quốc gia trên thế giới như Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Ấn Độ cũng như chính sách bảo vệ NTD của các quốc gia này. Bên cạnh đó, cuốn sách cũng có những phân tích về hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam mà cụ thể là hoạt động của Hội tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam. Đồng thời, cuốn sách cũng nêu lên vấn đề xâm hại quyền lợi của NTD diễn ra ngày càng phổ biến và trầm trọng ở nước ta, lý giải các nguyên nhân gây ảnh hưởng tới quyền lợi của NTD cũng như đề ra các biện pháp để bảo vệ NTD hữu hiệu nhất. - Cuốn “Bàn về tiêu dùng của Chủ nghĩa xã hội” của Trần Tri Hoằng, Nxb Chính trị quốc gia, 1999 là công trình tiên phong nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận về tiêu dùng.
Cuốn sách đã tổng kết thực tiễn tiêu dùng hơn 40 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, đặc biệt trong thời kỳ cải cách, mở cửa từ năm 1978 đến nay dựa trên cơ sở lý luận của C. Lê Nin về vấn đề tiêu dùng và tham khảo thành tựu lý luận về tiêu dùng trong kinh tế học phương Tây. Trong cuốn sách này, ông đã trình bày năm vấn đề lớn: Quan niệm về tiêu dùng; hệ thống tiêu dùng; cơ cấu tiêu dùng; hành vi tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng. Tác giả tiến hành tìm hiểu một cách toàn diện về lý luận cơ bản, các quy luật vận hành, diễn biến, các quan hệ của tiêu dùng: giữa sản xuất với tiêu dùng, phân phối với tiêu dùng, trao đổi với tiêu dùng.
Ngoài những vấn đề mang tính lý luận về tiêu dùng, tác giả cũng đã đề cập đến một số quyền của NTD như: quyền được tìm hiểu; quyền được lựa chọn; quyền bảo đảm chất lượng, giá cả, an toàn, cân đong; quyền sửa chữa, thay đổi, trả lại tiền và đòi bồi thường. Quyền của NTD tuy chưa được đề cập và phân tích một cách đầy đủ, nhưng 11 đây có thể xem là sự gợi mở cho các công trình sau, kế thừa và tiếp tục làm rõ hơn các vấn đề lý luận liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD. - Iain Ramsay, Consumer Law and Policy: Text and Materials on Regulating Consumer Markets: học giả đề cập sâu sắc về vai trò của Nhà nước trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, các quan điểm, chính sách về pháp luật bảo vệ NTD ở nhiều quốc gia trên thế giới trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế từ đó đưa ra các nhận định về cách thức xây dựng chính sách và pháp luật bảo vệ NTD của quốc gia, quốc tế. Brooke Overby, An Institutional Analysis of consumer Law: Trong tài liệu này, Brooke đưa ra định nghĩa “NTD” được sử dụng trong một đạo luật của Anh Quốc là Fair Trading Act năm 1973, trong đó NTD là người được cung cấp hoặc tìm kiếm sự cung cấp hàng hóa hoặc dịch vụ trong quá trình kinh doanh của bên cung cấp nhưng không tiếp nhận hàng hóa hay dịch vụ trong quá trình kinh doanh của mình.
Brooke cũng nhận định tính bất cân bằng trong quyền thương lượng, một điều liên quan tới những vấn đề phi đạo đức và phi thị trường được phản ánh thông qua sự tương phản về kinh nghiệm của bên bán với sự thiếu kinh nghiệm của cá nhân người mua. Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu, tài liệu khác cũng cung cấp những quan điểm, lí luận ở nhiều khía cạnh cụ thể liên quan tới bảo vệ quyền lợi NTD phải kể đến như: - Private and Financial Sector Development Department - World Bank, Good Practices for Consumer Protection and Financial Literacy in Europe and Central Asia: A Diagnostic Tool: Công trình nghiên cứu này đề cập về NTD trên thế giới, chủ yếu tập trung ở những nước đang phát triển - những nước có nền kinh tế còn non kém, hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD còn chưa phát triển. Đồng thời, nghiên cứu còn để cập đến nội dung thực hành tốt đối với bảo vệ quyền lợi NTD trong các lĩnh vực khác nhau của ngành tài chính như ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao 12 gồm 8 vấn đề chính: (i) Các tổ chức bảo vệ NTD, (ii) Các nguyên tắc bán hàng và công bố thông tin, (iii) Quản lý và duy trì tài khoản của NTD, (iv) Bảo vệ dữ liệu và quyền riêng tư, (v) Cơ chế giải quyết tranh chấp, (vi) Phương án bảo lãnh/bảo đảm và bồi thường, (vii) Giáo dục tài chính và (viii) Các vấn đề cạnh tranh trong dịch vụ tài chính. - Committee on Consumer Policy - Directorate for Science, Technology and Industry-OECD, Best Practices for Consumer Policy: Report on the Effectiveness of Enforcement Regimes: Nghiên cứu này xem xét chế độ thực thi nào có hiệu quả về mặt chi phí trong việc đảm bảo tuân thủ nghiêm mặt pháp lệnh về bảo vệ quyền lợi NTD được lập ra để ngăn ngừa các tổn thất tài chính.
Nghiên cứu đưa ra 5 mô hình để thực thi pháp luật bảo vệ NTD gồm: (i) Mô hình dựa vào hệ thống pháp luật hình sự về xử phạt; (ii) Mô hình trong đó các cơ quan hành chính chủ yếu sử dụng hệ thống pháp luật dân sự để đưa ra các hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả; (iii) Mô hình trong đó các cơ quan hành chính có quyền áp dụng các biện pháp xử phạt tài chính; (iiii) Mô hình chủ yếu dựa vào khiếu nại của NTD lên cán bộ thanh tra; (iv) Mô hình chủ yếu dựa vào việc sắp xếp và thực thi các quyền hạn riêng. Qua đó, học giả nghiên cứu phát triển một khung lý thuyết về đánh giá tính hiệu quả về mặt chi phí của các phương án thực thi này thông qua các nghiên cứu thực tiễn tại các quốc gia như: Anh, Australia, Bỉ, Hà Lan.