Tổng quan luận án

Đề tài luận án tiến sĩ luật học: "Trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay" được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đang hội nhập quốc tế sâu rộng với việc ký kết 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 11 hiệp định đã có hiệu lực thi hành. Cùng với sự phát triển của các phương thức kinh doanh mới qua mạng internet, truyền hình và mạng xã hội, các hành vi vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng (NTD) có xu hướng gia tăng về số lượng, mức độ và hình thức (như vụ việc quảng cáo sai sự thật thông qua hình thức trúng phiếu mua hàng qua điện thoại của Công ty Thái Dương Xanh, hoặc tình trạng giao hàng không đúng thông tin giới thiệu trên mạng).

Thực tiễn cho thấy các thiết chế nhà nước trong bảo vệ NTD dù cần thiết nhưng chưa thể bao quát toàn diện. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 đã dành một chương quy định vai trò của tổ chức xã hội, song cơ chế tham gia còn nhiều vướng mắc. Ngày 29/11/2018, Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VICOPRO) được thành lập trên cơ sở tách ra từ Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS), bao gồm 61 Hội địa phương và tổ chức thành viên. Tuy nhiên, hành lang pháp lý hiện hành chưa quy định rõ mối quan hệ giữa các tổ chức bảo vệ NTD ở các cấp khác nhau, cơ chế hỗ trợ tài chính từ Nhà nước mới dừng lại ở mức nguyên tắc khiến các tổ chức này thiếu nguồn kinh phí hoạt động ổn định (ngoại trừ một số địa phương có hỗ trợ kinh phí như Kiên Giang, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu). Khoảng trống nghiên cứu được xác định là sự thiếu vắng các công trình nghiên cứu độc lập, toàn diện có luận cứ khoa học về cơ sở lý thuyết, thực trạng điều chỉnh pháp luật và thực tiễn thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội bảo vệ NTD tại Việt Nam.

Mục đích nghiên cứu: Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi; từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo quy định của pháp luật;
  2. Nghiên cứu so sánh trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật của một số quốc gia trên thế giới và rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam;
  3. Phân tích, đánh giá thực trạng các quy định về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam;
  4. Phân tích, đánh giá thực tiễn thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật ở Việt Nam hiện nay;
  5. Đề xuất các phương hướng, giải pháp nâng cao trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các quy định pháp luật và thực tiễn thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam.
  • Phạm vi về nội dung: Luận án giới hạn phạm vi nghiên cứu chủ thể là Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam với tư cách là "tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng".
  • Phạm vi về không gian và thời gian: Tổng hợp, đánh giá trách nhiệm của các Hội bảo vệ quyền lợi của NTD tại Việt Nam từ năm 2010 (thời điểm Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời) đến thời điểm nghiên cứu.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu liên quan theo 3 nhóm chính:

Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về trách nhiệm của tổ chức xã hội bảo vệ NTD

  • Nghiên cứu trong nước: Báo cáo của ThS. Viên Thế Giang và Lê Tuấn Tú tại Hội thảo "Các tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng và quyền con người" chỉ ra vai trò của các hiệp hội trong việc tạo "thế lực cân bằng", là đối trọng giữa NTD và bên cung ứng. Đề tài cấp Bộ (2006) do TS. Tưởng Duy Kiên chủ nhiệm làm rõ khái niệm NTD và phân biệt với khách hàng. Bài viết của Đặng Vũ Huân (2005) trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật tiếp cận bảo vệ NTD dưới góc độ kinh tế học. Bài viết của PGS.TS. Nguyễn Như Phát (2010) trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật phân tích bản chất quan hệ tiêu dùng với đặc tính bất cân xứng thông tin và việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung. Cuốn sách do Viện Nhà nước và Pháp luật biên soạn (1999) phân tích chính sách và luật bảo vệ NTD của Thái Lan, Singapore, Nhật Bản, Ấn Độ và hoạt động của VINASTAS. Công trình của Trần Tri Hoằng (1999) phân tích 5 vấn đề lớn về tiêu dùng xã hội chủ nghĩa dựa trên lý luận của V.I. Lênin và kinh tế học phương Tây.
  • Nghiên cứu quốc tế: Iain Ramsay (Consumer Law and Policy) phân tích vai trò của Nhà nước trong điều tiết thị trường tiêu dùng. Brooke Overby (An Institutional Analysis of Consumer Law) phân tích khái niệm NTD theo Đạo luật Fair Trading Act 1973 của Anh và sự bất cân bằng về kinh nghiệm thương lượng. Báo cáo của World Bank (Ban Phát triển Khu vực Tư nhân và Tài chính) đưa ra công cụ chẩn đoán gồm 8 vấn đề bảo vệ NTD tài chính. Nghiên cứu của OECD (Ủy ban Chính sách Tiêu dùng) xây dựng khung đánh giá hiệu quả chi phí của 5 mô hình thực thi pháp luật bảo vệ NTD tại Anh, Australia, Bỉ, Hà Lan. Báo cáo của Ủy ban Vấn đề Tiêu dùng thuộc Hội đồng Kinh tế và Xã hội Hà Lan (CCA - SER) chỉ ra các rào cản trong cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) xuyên biên giới tại EU.

Nhóm các công trình nghiên cứu thực trạng pháp luật và thiết chế bảo vệ NTD

  • Nghiên cứu về tổ chức xã hội: Đề tài cấp Nhà nước mã số KX do TS. Đỗ Hoài Nam làm chủ nhiệm; công trình của GS. Dương Xuân Ngọc (2009); Nguyễn Khắc Mai (1996); các công trình đồng chủ biên của TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phương (2010, 2012) về phát huy vai trò của tổ chức xã hội trong quản lý và phát triển xã hội; Bùi Thị Thanh Hằng (2007).
  • Nghiên cứu về thiết chế và hội bảo vệ NTD: Bài viết của Phan Huy Hồng (2008) về luật hóa vai trò của tổ chức bảo vệ NTD; sách của TS. Nguyễn Thị Vân Anh (2012) và đề tài nghiên cứu cấp trường (2011), đề tài cấp Bộ (2012) của cùng tác giả về năng lực thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ NTD; báo cáo của TS. Đinh Thị Mỹ Loan (2009); đề tài cấp Bộ do ThS. Đinh Thị Mai Phương chủ nhiệm (2008); báo cáo của PGS.TS. Đinh Ngọc Vượng (2008), GS.TS. Lê Hồng Hạnh (2010), PGS. Đinh Văn Thanh (2009) về thủ tục xét xử rút gọn; ThS. Ngô Vĩnh Bạch Dương (2009) về nghĩa vụ chứng minh; Tưởng Duy Lượng (2007) về vai trò của Tòa án; Willem van Boom và Marco Loos về cơ chế thực thi công - tư tại Châu Âu; Geraint G. Howells, Iain Ramsay, Thomas Wilhelsson, David Kraft (2010) so sánh mô hình thể chế và thiết chế giữa Hoa Kỳ và EU.

Nhóm các công trình nghiên cứu giải pháp hoàn thiện pháp luật

  • Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Thư (2013) đề xuất giải pháp thi hành pháp luật bảo vệ 8 quyền của NTD nói chung; Báo cáo đề tài cấp Bộ của PGS.TS. Nguyễn Như Phát (2009) nêu các nguyên tắc và giải pháp nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước; công trình của TS. Phạm Thị Hồng về hoàn thiện pháp luật về Hội; tài liệu Consumer Policy Toolkit của OECD về các công cụ hoạch định chính sách tiêu dùng.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết

  1. Về lý luận: Chưa có công trình nào xây dựng hệ thống lý luận hoàn chỉnh về khái niệm, đặc điểm, sự cần thiết và nội dung pháp lý điều chỉnh trách nhiệm của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD.
  2. Về thực tiễn: Thiếu tiêu chí đánh giá toàn diện thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động của tổ chức xã hội bảo vệ NTD; chưa làm rõ thực trạng về tổ chức, nguồn nhân lực và cơ chế vận hành của Hội bảo vệ NTD tại Việt Nam.
  3. Về giải pháp: Thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn để định hình mô hình chính sách, khung pháp lý đồng bộ và các giải pháp cụ thể cho từng thành tố cấu thành pháp luật về trách nhiệm của tổ chức xã hội trong bối cảnh thi hành Hiến pháp năm 2013.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết

Luận án vận dụng 6 học thuyết và lý thuyết khoa học:

  1. Lý thuyết về nhà nước nhỏ xã hội lớn: Tiếp cận mô hình quản trị quốc gia dựa trên 3 trụ cột (Nhà nước, Thị trường, Tổ chức xã hội), trong đó tổ chức xã hội tham gia cung ứng dịch vụ công và khắc phục các khiếm khuyết của thị trường.
  2. Lý thuyết về nhu cầu của Abraham Maslow (thập niên 1950): Tiếp cận thang bậc nhu cầu của con người để đánh giá nhu cầu được bảo vệ của các đối tượng yếu thế trong xã hội và mức độ đáp ứng của hệ thống pháp luật.
  3. Lý thuyết về quyền con người: Xác định quyền của NTD là một bộ phận của quyền con người; bảo vệ NTD là cụ thể hóa các quyền cơ bản được ghi nhận trong Hiến pháp và các điều ước quốc tế.
  4. Lý thuyết về mối liên hệ biện chứng giữa nhà sản xuất, cung ứng và NTD: Phân tích các yếu tố quan hệ cung cầu, quan hệ giá trị và quy luật cạnh tranh nhằm định vị trách nhiệm cung cấp thông tin của nhà sản xuất và trách nhiệm đại diện của tổ chức xã hội.
  5. Lý thuyết về thông tin bất cân xứng (George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz - 1970): Giải thích tình trạng bên bán nắm giữ ưu thế thông tin và che đậy thông tin, đặt NTD vào vị thế bên yếu thế cần được pháp luật và tổ chức xã hội trợ giúp.
  6. Lý thuyết về tổ chức xã hội (Học thuyết xã hội): Xác định các chức năng định hướng, xây dựng đồng thuận quốc gia, ổn định, huy động xã hội và giảm thiểu bất công xã hội của các tổ chức xã hội.

Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và xây dựng nhà nước pháp quyền.

  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể:

    • Phương pháp phân tích: Sử dụng xuyên suốt các chương (đặc biệt tại Chương 1, 2, 3) để đánh giá các quan điểm khoa học và quy định pháp luật hiện hành.
    • Phương pháp tổng hợp: Sử dụng chủ yếu tại Chương 4 để rút ra kết luận tổng quan và xây dựng hệ thống kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
    • Phương pháp so sánh luật học: Sử dụng chủ yếu tại Chương 2 nhằm đối chiếu pháp luật Việt Nam với pháp luật của các quốc gia trên thế giới.
    • Phương pháp thống kê: Vận dụng tại Chương 1 và Chương 2 nhằm thu thập, phân loại văn bản quy phạm pháp luật, tài liệu nghiên cứu và dữ liệu thực tế về việc thực hiện trách nhiệm của các tổ chức xã hội.
    • Phương pháp phân tích logic quy phạm: Sử dụng xuyên suốt từ Chương 2, Chương 3 đến Chương 4 để rà soát cấu trúc quy phạm, chỉ ra bất cập và đề xuất điều chỉnh tương ứng.
  • Nguồn tư liệu: Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam (Hiến pháp 2013, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999, Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại...); điều ước và văn kiện quốc tế (Nghị quyết và Bản hướng dẫn năm 1985 của Liên Hợp Quốc, các chỉ thị của EU); đạo luật bảo vệ NTD của các nước (Hoa Kỳ, Pháp, Canada, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia, Hàn Quốc...); báo cáo hoạt động của VICOPRO, VINASTAS và các Hội địa phương.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu

Chương này hệ thống hóa toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD và vai trò của các tổ chức xã hội. Tác giả phân tích điểm tiếp thu và chỉ ra các khoảng trống khoa học về lý luận, thực tiễn và giải pháp lập pháp. Đồng thời, chương 1 thiết lập nền tảng lý thuyết cho luận án thông qua việc luận giải 6 lý thuyết nền tảng (nhà nước nhỏ xã hội lớn, thang bậc nhu cầu Maslow, quyền con người, quan hệ biện chứng cung - cầu, thông tin bất cân xứng của Akerlof - Spence - Stiglitz, học thuyết tổ chức xã hội) và xác định khung câu hỏi nghiên cứu của đề tài.

Chương 2: Những vấn đề lí luận về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng

Chương 2 làm rõ nội hàm khái niệm người tiêu dùng dưới góc độ kinh tế và góc độ pháp lý. Về mặt pháp lý, NTD là đối tượng trọng tâm được pháp luật ưu tiên bảo vệ nhằm khắc phục vị thế yếu thế trong quan hệ với bên sản xuất, kinh doanh.

Luận án phân tích so sánh pháp luật quốc tế xoay quanh 3 khía cạnh pháp lý:

  1. Tư cách chủ thể:
    • Nhóm nước chỉ công nhận cá nhân/thể nhân: Chỉ thị 93/13/EEC và Chỉ thị 1999/44/EC của Liên minh Châu Âu, Pháp, Canada (Bang Quebec, Bang British Columbia), Liên Xô (cũ).
    • Nhóm nước công nhận cả cá nhân và pháp nhân: Ấn Độ (Đạo luật năm 1986 bao gồm cá nhân, doanh nghiệp, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội), Đài Loan (Luật năm 1994, sửa đổi 2005), Hàn Quốc, Thái Lan (Luật năm 1979).
  2. Cách thức tiếp cận:
    • Tiếp cận hẹp theo hợp đồng (Chỉ thị của EU).
    • Tiếp cận rộng bao gồm cả người sử dụng, thụ hưởng không trực tiếp ký hợp đồng và NTD tiềm năng/người được chào hàng (Thái Lan, Việt Nam quy định về hành vi quấy rối NTD tại Điều 3 Luật năm 2010).
  3. Mục đích sử dụng: Đa số các nước giới hạn ở mục đích tiêu dùng phi thương mại; một số nước loại trừ tiêu dùng trong quá trình sản xuất (Malaysia) hoặc giao Nghị định quy định chi tiết việc sử dụng trong sản xuất (Hàn Quốc).
| Quốc gia / Khu vực | Văn bản điều chỉnh | Tư cách chủ thể | Phạm vi tiếp cận giao dịch | Mục đích sử dụng |
| :--- | :--- | :--- | :--- | :--- |
| **Liên minh Châu Âu (EU)** | Chỉ thị 93/13/EEC; Chỉ thị 1999/44/EC | Cá nhân (tự nhiên nhân) | Trực tiếp giao kết hợp đồng | Phi thương mại, không kinh doanh/nghề nghiệp |
| **Pháp** | Luật Tiêu dùng | Thể nhân (không phải chủ doanh nghiệp) | Trực tiếp mua và sử dụng dịch vụ | Phục vụ bản thân hoặc gia đình |
| **Canada** | Luật Bang Quebec; Bang British Columbia | Tự nhiên nhân (thể nhân) | Bao gồm cả người sử dụng, thụ hưởng | Không vì mục đích kinh doanh |
| **Ấn Độ** | Đạo luật Bảo vệ NTD 1986 | Cá nhân, hãng, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội | Người mua hoặc người được hưởng lợi (kể cả chưa trả đủ tiền) | Không bán lại, không vì mục đích thương mại |
| **Đài Loan** | Luật Bảo vệ NTD 1994 (sửa đổi 2005) | Thể nhân và pháp nhân | Người tham gia giao dịch và người thụ hưởng | Mục đích tiêu dùng |
| **Thái Lan** | Luật Bảo vệ NTD 1979 | Cá nhân hoặc pháp nhân | Người mua, người sử dụng, người được chào hàng | Tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ |
| **Malaysia** | Luật Bảo vệ NTD | Người (person) | Người trực tiếp mua và người sử dụng | Không dùng để bán lại hoặc đưa vào sản xuất |
| **Hàn Quốc** | Luật Bảo vệ NTD | Cá nhân và pháp nhân | Người sử dụng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp | Sử dụng hàng ngày hoặc sản xuất (theo Nghị định) |
| **Việt Nam** | Pháp lệnh 1999; Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 | Cá nhân, hộ gia đình, tổ chức | Giao kết hợp đồng hoặc sử dụng thực tế; NTD tiềm năng | Tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức |

Tác giả luận án khẳng định quan điểm đồng tình: "Người tiêu dùng là các cá nhân mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh".

Về quyền của người tiêu dùng, chương này điểm lại lịch sử từ Tuyên bố ngày 15/3/1962 của Tổng thống Hoa Kỳ J. Kennedy (nêu 4 quyền cơ bản: được an toàn, được thông tin, được lựa chọn, được bày tỏ quan điểm), sự bổ sung 4 quyền tiếp theo của Tổ chức Quốc tế Người tiêu dùng (CI), và Nghị quyết năm 1985 của Liên Hợp Quốc thông qua "Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu dùng" (gồm 5 nguyên tắc chung). Tổng hợp lại gồm 8 quyền cơ bản của NTD:

  1. Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản;
  2. Quyền được an toàn;
  3. Quyền được thông tin;
  4. Quyền được lựa chọn;
  5. Quyền được lắng nghe (bày tỏ ý kiến);
  6. Quyền được khiếu nại và bồi thường;
  7. Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng;
  8. Quyền có môi trường sống lành mạnh và bền vững.

Chương 3: Thực trạng trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay

Chương này đánh giá các quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và các văn bản hướng dẫn đối với 4 nhóm trách nhiệm của tổ chức xã hội:

  • Phản biện và giám định xã hội: Tham gia đóng góp ý kiến xây dựng chính sách, pháp luật và thực hiện giám định độc lập chất lượng sản phẩm, hàng hóa.
  • Tuyên truyền, giáo dục NTD: Cung cấp thông tin, phổ biến kiến thức tiêu dùng và pháp luật bảo vệ NTD.
  • Đại diện giải quyết khiếu nại: Hướng dẫn, tư vấn, hòa giải và hỗ trợ thương lượng giữa NTD và tổ chức, cá nhân kinh doanh.
  • Thay mặt khởi kiện dân sự vì quyền lợi công cộng của NTD: Đại diện khởi kiện hoặc tự mình khởi kiện các vụ án dân sự để bảo vệ lợi ích công cộng hoặc quyền lợi của nhiều NTD.

Đánh giá thực trạng chỉ ra các hạn chế lớn: Quy định pháp luật thiếu cơ chế liên kết hệ thống giữa Hội cấp trung ương (VICOPRO) và 61 Hội địa phương; cơ chế hỗ trợ tài chính từ ngân sách nhà nước chưa cụ thể, dẫn đến việc phần lớn các hội gặp khó khăn về kinh phí, trừ một số tỉnh như Kiên Giang, Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu; các rào cản tố tụng về án phí, thủ tục ủy quyền và nghĩa vụ chứng minh làm suy giảm hiệu quả khởi kiện của tổ chức xã hội.

Chương 4: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay

Chương 4 xác định các quan điểm, yêu cầu hoàn thiện pháp luật trong bối cảnh thực hiện Hiến pháp năm 2013 và các cam kết hội nhập quốc tế. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:

  1. Hoàn thiện các quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và pháp luật về Hội nhằm xác định rõ địa vị pháp lý, quyền hạn của tổ chức xã hội tham gia bảo vệ NTD.
  2. Xây dựng cơ chế tài chính minh bạch, cho phép phân bổ kinh phí hỗ trợ từ ngân sách nhà nước đối với các nhiệm vụ công ích do tổ chức xã hội thực hiện (như tuyên truyền, tư vấn khiếu nại, giám định độc lập).
  3. Đơn giản hóa thủ tục tố tụng dân sự, bổ sung thủ tục rút gọn và miễn/giảm án phí cho tổ chức xã hội khi khởi kiện vì lợi ích công cộng của NTD.
  4. Tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Công Thương, cơ quan quản lý thị trường) với VICOPRO và các Hội địa phương; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực làm công tác bảo vệ NTD.

Kết quả và những đóng góp mới

  • Đóng góp về mặt lý luận:
    • Xây dựng hệ thống cơ sở lý luận chuyên biệt về trách nhiệm của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi NTD dựa trên sự tích hợp các lý thuyết kinh tế - pháp lý (nhà nước nhỏ xã hội lớn, thang bậc nhu cầu Maslow, quyền con người, bất cân xứng thông tin, học thuyết tổ chức xã hội).
    • Làm rõ nội hàm khái niệm người tiêu dùng theo hướng tiếp cận cá nhân tiêu dùng phi thương mại; phân loại và chuẩn hóa 4 nhóm trách nhiệm cốt lõi của tổ chức xã hội bảo vệ NTD.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn:
    • Cung cấp bức tranh toàn diện về thực trạng pháp luật và thực tiễn hoạt động của Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VICOPRO) và các tổ chức địa phương từ năm 2010 đến nay.
    • Nhận diện các điểm nghẽn pháp lý cụ thể: thiếu cơ chế liên kết cấp hội, bất cập về tự chủ tài chính và rào cản tố tụng khi đại diện khởi kiện.
  • Kiến nghị lập pháp và thực thi:
    • Đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật về Hội và Bộ luật Tố tụng Dân sự.
    • Thiết lập cơ chế hỗ trợ ngân sách nhà nước cho các hoạt động công ích của Hội bảo vệ NTD; đề xuất áp dụng thủ tục rút gọn và cơ chế miễn giảm án phí đối với các vụ kiện tập thể/vụ kiện bảo vệ lợi ích công cộng do tổ chức xã hội thực hiện.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu tập trung vào chủ thể Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VICOPRO) với tư cách là tổ chức xã hội chuyên trách; chưa đi sâu nghiên cứu toàn diện mọi loại hình tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức xã hội - nghề nghiệp khác tham gia bảo vệ NTD. Dữ liệu thực tiễn chủ yếu giới hạn trong phạm vi thời gian từ khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có hiệu lực thi hành.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khảo cứu trách nhiệm bảo vệ NTD sang các hiệp hội ngành nghề đặc thù (ngân hàng, bảo hiểm, thương mại điện tử); nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp tiêu dùng trực tuyến (ODR) và giải quyết tranh chấp xuyên biên giới trong bối cảnh thương mại điện tử phát triển mạnh.

Giá trị tham khảo

  • Đối với cơ quan xây dựng chính sách, pháp luật: Cung cấp luận cứ khoa học trực tiếp cho Quốc hội, Bộ Công Thương, Bộ Tư pháp trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, xây dựng dự án Luật về Hội và hoàn thiện các quy định tố tụng liên quan đến khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng.
  • Đối với các tổ chức xã hội bảo vệ NTD: Là tài liệu tham khảo thực tiễn cho Ban chấp hành VICOPRO và 61 Hội địa phương nhằm củng cố mô hình tổ chức, phương thức thực hiện 4 nhóm trách nhiệm và kiến nghị cơ chế hỗ trợ tài chính từ chính quyền địa phương.
  • Đối với công tác đào tạo và nghiên cứu: Cung cấp tài liệu chuyên khảo cho giảng viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Quản trị công tại các cơ sở đào tạo luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VICOPRO) được thành lập khi nào và có cơ cấu ra sao?
Trả lời: Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VICOPRO) được thành lập vào ngày 29/11/2018 trên cơ sở tách ra từ Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam (VINASTAS). Hội có mạng lưới hoạt động gồm 61 Hội địa phương và tổ chức thành viên trên phạm vi cả nước.

2. Lý thuyết thông tin bất cân xứng được ứng dụng như thế nào trong luận án?
Trả lời: Luận án vận dụng lý thuyết do George Akerlof, Michael Spence và Joseph Stiglitz xây dựng năm 1970 để chỉ ra rằng trong quan hệ thị trường, nhà sản xuất/cung ứng luôn có ưu thế nắm giữ và có xu hướng che đậy thông tin, khiến NTD trở thành bên yếu thế. Đây là căn cứ khoa học đòi hỏi pháp luật phải quy định trách nhiệm của tổ chức xã hội nhằm cung cấp thông tin, giám định độc lập và đại diện bảo vệ NTD.

3. Tám quyền cơ bản của người tiêu dùng được thừa nhận quốc tế bắt nguồn từ đâu?
Trả lời: Tám quyền bắt nguồn từ 4 quyền cơ bản do Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy tuyên bố ngày 15/3/1962 (an toàn, thông tin, lựa chọn, bày tỏ quan điểm), sau đó Tổ chức Quốc tế Người tiêu dùng (CI) bổ sung 4 quyền (nhu cầu cơ bản, khiếu nại - bồi thường, giáo dục tiêu dùng, môi trường lành mạnh). Hệ thống này được Liên Hợp Quốc chuẩn hóa thông qua Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu dùng ban hành năm 1985.

4. Khái niệm người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam có điểm gì khác biệt so với Chỉ thị của Liên minh Châu Âu?
Trả lời: Theo Chỉ thị của EU (Chỉ thị 93/13/EEC), NTD chỉ bao gồm cá nhân (tự nhiên nhân) trực tiếp mua hàng hóa, dịch vụ theo hợp đồng cho mục đích phi thương mại. Trong khi đó, theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam năm 2010 (và Pháp lệnh năm 1999), NTD bao gồm cá nhân, hộ gia đình và tổ chức sử dụng cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt; đồng thời pháp luật Việt Nam gián tiếp thừa nhận việc bảo vệ NTD tiềm năng thông qua quy định cấm quấy rối NTD tại Điều 3.

5. Bốn nhóm trách nhiệm chính của tổ chức xã hội được luận án phân tích là gì?
Trả lời: Bốn nhóm trách nhiệm bao gồm: (1) Phản biện và giám định xã hội; (2) Tuyên truyền, giáo dục NTD; (3) Đại diện, hỗ trợ giải quyết khiếu nại; (4) Thay mặt, đại diện khởi kiện dân sự vì quyền lợi công cộng của NTD.


Kết luận

Luận án tiến sĩ luật học của tác giả là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuẩn tắc, so sánh luật học và phân tích thực tiễn, luận án đã làm rõ nền tảng lý luận, phân tích đối chiếu pháp luật quốc tế và đánh giá thực trạng hoạt động của Hội Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam từ năm 2010 đến nay. Các hạn chế cốt lõi về mối quan hệ liên cấp của tổ chức hội, sự thiếu hụt cơ chế hỗ trợ tài chính công và rào cản tố tụng đã được nhận diện cụ thể. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống giải pháp lập pháp và thực thi có giá trị tham khảo thiết thực cho các cơ quan quản lý nhà nước, cơ quan lập pháp và các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.