Tổng quan nghiên cứu

Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế năng động và là đô thị đông dân nhất cả nước với diện tích hơn 2.095 km2 và dân số vượt ngưỡng 8,9 triệu người. Với quy mô tiêu thụ khổng lồ thông qua mạng lưới 240 chợ truyền thống, 186 siêu thị, hơn 880 cửa hàng tiện lợi, 46.950 cơ sở dịch vụ ăn uống và 20.013 điểm kinh doanh thức ăn đường phố, vấn đề kiểm soát chất lượng bữa ăn hàng ngày trở thành bài toán an sinh xã hội cấp bách. Thực tế cho thấy tình trạng mất an toàn thực phẩm diễn biến phức tạp, chỉ tính từ năm 2013 đến năm 2018 trên địa bàn thành phố đã ghi nhận 17 vụ ngộ độc thực phẩm nghiêm trọng làm 266 người mắc và 1 trường hợp tử vong. Tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh vi phạm các điều kiện an toàn thực phẩm luôn ở mức báo động, điển hình trong đợt kiểm tra 22.530 cơ sở đã phát hiện tới 8.505 đơn vị vi phạm, chiếm tỷ lệ 37,75%.

Trước thực trạng đó, luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Kinh tế tập trung nghiên cứu toàn diện các vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và phân tích thực tiễn thi hành cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2014 - 2018. Mục tiêu cốt lõi của đề tài là chỉ ra những khoảng trống pháp lý, sự chồng chéo giữa các cơ quan quản lý nhà nước, và các rào cản trong việc khởi kiện bồi thường thiệt hại dân sự. Ý nghĩa thực tiễn của công trình nhằm cung cấp hệ thống giải pháp lập pháp và hành pháp đồng bộ, hướng đến mục tiêu giảm tỷ lệ vi phạm an toàn thực phẩm xuống dưới 10%, tăng chỉ số niềm tin tiêu dùng vào thông tin sản phẩm từ mức 24% lên trên 70%, đồng thời bảo đảm quyền cơ bản được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người dân đô thị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng Lý thuyết vị thế bất cân xứng thông tin và Lý thuyết trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt trong kinh tế học pháp luật. Trong quan hệ giao dịch thực phẩm, người tiêu dùng luôn ở vị thế yếu thế do không thể kiểm soát quy trình canh tác, chế biến hay phát hiện dư lượng hóa chất độc hại bằng mắt thường. Do đó, việc áp dụng mô hình quản lý chuỗi cung ứng từ trang trại đến bàn ăn cùng cơ chế phân bổ trách nhiệm bồi thường không phụ thuộc vào yếu tố lỗi là đòi hỏi tất yếu để thiết lập lại sự công bằng thị trường. Nghiên cứu cũng tiếp cận mô hình quản trị kiềng ba chân bao gồm ba chủ thể trọng tâm: Nhà nước quản lý, Thương nhân cung ứng và Người tiêu dùng tự bảo vệ.

Nghiên cứu làm sáng tỏ 4 khái niệm pháp lý nền tảng:

  • Khái niệm quyền được an toàn của người tiêu dùng theo Điều 8 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
  • Khái niệm an toàn thực phẩm và điều kiện bảo đảm chất lượng theo Luật An toàn thực phẩm năm 2010.
  • Khái niệm trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo Bộ luật Dân sự năm 2015.
  • Khái niệm chế tài pháp lý đa tầng bao gồm chế tài dân sự, hành chính và hình sự theo quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015. Khung pháp lý này đối chiếu chặt chẽ với các chuẩn mực quốc tế của Tổ chức Y tế Thế giới và Hiệp định SPS của Tổ chức Thương mại Thế giới gồm 165 quốc gia thành viên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp quy mô lớn từ các báo cáo định kỳ của Ban Chỉ đạo liên ngành an toàn thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh, Ban Quản lý An toàn thực phẩm, Sở Y tế, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng số liệu xử lý khiếu nại của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Thành phố Hồ Chí Minh. Dữ liệu thực chứng bao gồm 22.530 hồ sơ thanh tra cơ sở kinh doanh, 1.990 mẫu xét nghiệm vi sinh - hóa lý và 345 hồ sơ tự công bố sản phẩm. Phương pháp chọn mẫu kết hợp giữa chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo các kênh phân phối (chợ đầu mối, siêu thị, thức ăn đường phố) và chọn mẫu mục đích tại các điểm nóng vi phạm ở 24 quận, huyện.

Tác giả lựa chọn phương pháp phân tích quy phạm pháp luật và so sánh luật học kết hợp với thống kê mô tả định lượng. Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm rà soát tính đồng bộ giữa Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010, Luật An toàn thực phẩm 2010 và hơn 134 văn bản hướng dẫn dưới luật. Phương pháp phân tích số liệu giúp đo lường chính xác khoảng cách giữa quy định pháp luật trên văn bản và năng lực thực thi ngoài đời sống. Toàn bộ chuỗi dữ liệu được thu thập, xử lý và phân tích có hệ thống trong khung thời gian 5 năm từ năm 2014 đến năm 2018, đồng thời cập nhật các sự kiện pháp lý nổi bật đến quý 2 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ vi phạm quy chuẩn an toàn thực phẩm tại các cơ sở kinh doanh ở mức rất cao và có xu hướng tinh vi hơn. Trong quý 1 năm 2019, các đoàn thanh tra đã kiểm tra 22.530 cơ sở và phát hiện 8.505 cơ sở vi phạm, chiếm tỷ lệ 37,75%, phạt tiền 464 đơn vị với tổng số tiền trên 5 tỷ đồng. Đặc biệt, công tác hậu kiểm 345 hồ sơ tự công bố chất lượng sản phẩm cho thấy có đến 304 hồ sơ không đạt chuẩn, chiếm tỷ lệ 88,1%. Kết quả kiểm nghiệm 1.990 mẫu thực phẩm lưu thông đã phát hiện 105 mẫu không đạt chỉ tiêu vi sinh và hóa lý an toàn, tương đương 5,28%.

Thứ hai, dư lượng hóa chất độc hại và điều kiện vệ sinh giết mổ gia súc, gia cầm chưa được kiểm soát chặt chẽ. Khảo sát mẫu nông sản cho thấy dư lượng thuốc bảo vệ thực vật xuất hiện trong 70% số mẫu rau ăn lá và rau ăn quả. Đối với hoạt động giết mổ, có 64,5% cơ sở nằm xen lẫn trong khu dân cư và 35,5% nằm tại các chợ; trong đó chỉ 67,7% cơ sở gia súc và 27% cơ sở gia cầm được kiểm soát thú y thường xuyên. Do chỉ 45% cơ sở thực hiện vệ sinh tiêu độc sát trùng đúng quy định nên tỷ lệ mẫu thịt ô nhiễm vi sinh vật chiếm tới 57%.

Thứ ba, cơ quan chức năng liên tiếp triệt phá các đường dây ngâm tẩm hóa chất công nghiệp độc hại với khối lượng lớn. Điển hình vào ngày 11/4/2019 tại Quận 8, lực lượng công an phát hiện gần 2 tấn ngó sen và chuối bào ngâm trong 200kg chất tẩy trắng công nghiệp, 5kg hàn the và 100kg acid acetic. Tiếp đó ngày 14/4/2019 tại quận Thủ Đức, cơ quan điều tra bắt quả tang 4 cơ sở tẩy rửa 6,3 tấn cà rốt bằng hóa chất không rõ nguồn gốc, với công suất xả ra thị trường 7 đến 8 tấn mỗi ngày.

Thứ tư, nhận thức và hành vi tiêu dùng của người dân thành phố tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro. Khảo sát chỉ ra 51,4% người tiêu dùng ưa chuộng thức ăn chế biến sẵn; 73% người dân sẵn sàng mua dùng thử nhãn hiệu thực phẩm mới dù chưa rõ chất lượng (vượt trội so với mức bình quân 55% của các nước trong khu vực). Đáng lo ngại, chỉ có 24% người tiêu dùng tin tưởng thông tin quảng cáo trên bao bì, và chỉ 30% ý thức được tác hại lâu dài của thực phẩm bẩn đối với sức khỏe bản thân.

+-------------------------------------------------------------------------+
|                  BẢNG ĐỐI SOÁT CÁC CHỈ SỐ AN TOÀN THỰC PHẨM             |
+----------------------------------------------------+--------------------+
| Chỉ tiêu đánh giá thực tế                          | Tỷ lệ ghi nhận     |
+----------------------------------------------------+--------------------+
| Tỷ lệ cơ sở sản xuất, kinh doanh vi phạm ATTP      | 37,75%             |
| Tỷ lệ hồ sơ tự công bố sản phẩm không đạt chuẩn    | 88,10%             |
| Mẫu rau củ quả tồn dư thuốc bảo vệ thực vật        | 70,00%             |
| Mẫu thịt giết mổ bị ô nhiễm vi sinh vật            | 57,00%             |
| Cơ sở giết mổ gia cầm được kiểm soát thú y         | 27,00%             |
| Người tiêu dùng tin tưởng thông tin trên bao bì    | 24,00%             |
+----------------------------------------------------+--------------------+

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của những tồn tại trên bắt nguồn từ sự phân tán, chồng chéo chức năng giữa 3 cơ quan chủ quản là Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng Bộ Công Thương. Sự thiếu hụt văn bản hướng dẫn chi tiết khiến chính quyền cơ sở cấp xã, phường không đủ nhân lực chuyên môn để thẩm định và cấp phép. Mặt khác, các kết quả test nhanh thực phẩm hiện chưa đủ giá trị pháp lý để xử phạt ngay tại chỗ, dẫn đến tình trạng khi có kết quả xét nghiệm chính thức thì thực phẩm độc hại đã được tiêu thụ hết trên thị trường.

Về mặt tư pháp, cơ chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua con đường tố tụng dân sự gần như bị vô hiệu hóa. Để đòi bồi thường thiệt hại theo Bộ luật Dân sự 2015, người tiêu dùng phải chứng minh toàn bộ 4 yếu tố: thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm, quan hệ nhân quả và lỗi của nhà sản xuất. Đây là rào cản bất khả thi đối với cá nhân người mua hàng. Trong khi đó, chế tài xử phạt hành chính theo Nghị định 91/2012/NĐ-CP chưa tương xứng với quy mô lợi nhuận phi pháp. Việc dữ liệu có thể được trực quan hóa qua biểu đồ cơ cấu vi phạm 37,75% và bảng đối sánh kiểm soát thú y giúp làm sáng tỏ bức tranh cấp thiết cần phải thay đổi phương thức quản lý sang hậu kiểm nghiêm ngặt và tăng cường chế tài hình sự.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường do sản phẩm thực phẩm có khuyết tật gây ra. Quốc hội và Bộ Tư pháp cần sớm sửa đổi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo hướng áp dụng nguyên tắc suy đoán lỗi và đảo ngược nghĩa vụ chứng minh. Theo đó, thương nhân sản xuất phải có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi khi xảy ra sự cố ngộ độc thực phẩm. Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ lệ hòa giải và giải quyết khiếu nại thành công lên trên 85%, rút ngắn thời gian xử lý tranh chấp xuống dưới 30 ngày trong giai đoạn 2020 - 2022.

Thứ hai, kiện toàn mô hình tổ chức bộ máy quản lý nhà nước chuyên trách và thống nhất đầu mối. Chính phủ và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh cần chính thức hóa mô hình Ban Quản lý An toàn thực phẩm thành cơ quan hành chính thống nhất, tập trung toàn bộ thẩm quyền thanh tra chuyên ngành từ 3 sở ngành về một mối. Giải pháp này nhằm đạt mục tiêu thanh tra 100% cơ sở kinh doanh có nguy cơ cao, giảm tỷ lệ cơ sở vi phạm hàng năm xuống dưới 15% trong giai đoạn 2021 - 2023.

Thứ ba, mở rộng chuỗi cung ứng thực phẩm an toàn và bắt buộc số hóa truy xuất nguồn gốc. Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phối hợp Sở Công Thương đẩy mạnh liên kết với các tỉnh lân cận, cấp chứng nhận chuỗi thực phẩm an toàn đạt chuẩn VietGAP cho 100% cơ sở cung ứng rau quả và trang trại chăn nuôi. Triển khai ứng dụng mã QR truy xuất nguồn gốc bắt buộc đối với 100% sản lượng thịt heo, thịt gia cầm và rau củ nhập vào 3 chợ đầu mối Bình Điền, Hóc Môn và Thủ Đức trong giai đoạn 2021 - 2024.

Thứ tư, tăng cường chế tài xử phạt kinh tế và đẩy mạnh truy cứu trách nhiệm hình sự. Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân và Công an Thành phố Hồ Chí Minh cần tăng cường áp dụng Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sử dụng hóa chất cấm, hàn the, chất tẩy trắng trong chế biến nông sản. Đồng thời, nâng mức phạt tiền hành chính lên gấp 3 đến 5 lần giá trị lô hàng vi phạm nhằm triệt tiêu động cơ trục lợi bất chính, bảo đảm xử lý dứt điểm 100% các điểm ngâm tẩm hóa chất công nghiệp trái phép.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là các cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách, bao gồm Bộ Công Thương, Bộ Y tế, Ban Quản lý An toàn thực phẩm và Ủy ban nhân dân các cấp. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn từ 22.530 cơ sở được kiểm tra để phục vụ việc rà soát, sửa đổi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật An toàn thực phẩm và ban hành các quy chế phối hợp liên ngành hiệu quả.

Nhóm thứ hai là các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ kinh doanh sản xuất thực phẩm. Nghiên cứu giúp doanh nghiệp nắm rõ 13 nhóm hành vi bị cấm, quy định ghi nhãn hàng hóa và trách nhiệm pháp lý khi lưu thông hàng hóa khuyết tật. Đây là cẩm nang giúp các đơn vị chủ động xây dựng quy trình kiểm soát chất lượng nội bộ đạt tiêu chuẩn VietGAP và thực hiện đúng thủ tục tự công bố sản phẩm, tránh nguy cơ bị xử phạt và tiêu hủy hàng hóa.

Nhóm thứ ba là Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các tổ chức xã hội và văn phòng luật sư. Luận văn trang bị kiến thức chuyên sâu về 8 quyền cơ bản của người tiêu dùng và các căn cứ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Dữ liệu từ công trình hỗ trợ luật sư trong việc đại diện theo ủy quyền hoặc khởi kiện tập thể bảo vệ các nạn nhân bị ngộ độc thực phẩm.

Nhóm thứ tư là giảng viên, học viên cao học và sinh viên các trường đại học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Quản trị công. Công trình là nguồn tài liệu tham khảo giá trị với chuỗi số liệu thực chứng 5 năm (2014 - 2018) tại đô thị lớn nhất cả nước, hỗ trợ đắc lực cho việc giảng dạy và thực hiện các đề tài nghiên cứu chuyên sâu về pháp luật bảo vệ người tiêu dùng.

Câu hỏi thường gặp

Người tiêu dùng gặp những khó khăn pháp lý nào khi khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại do thực phẩm không an toàn? Người tiêu dùng phải đối mặt với gánh nặng chứng minh 4 yếu tố theo Bộ luật Dân sự 2015, đặc biệt là chứng minh lỗi của nhà sản xuất và mối quan hệ nhân quả giữa thực phẩm với tổn hại sức khỏe. Việc thiếu chứng từ mua hàng ở chợ truyền thống và khó tiếp cận hồ sơ kỹ thuật khiến người dân khó theo đuổi vụ kiện.

Thực trạng vi phạm an toàn thực phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn nghiên cứu diễn ra như thế nào? Số liệu thanh tra ghi nhận tỷ lệ vi phạm rất cao, dao động từ 37,75% đến 41,1%. Trong quý 1 năm 2019, kiểm tra 22.530 cơ sở đã phát hiện 8.505 đơn vị vi phạm. Hậu kiểm 345 hồ sơ tự công bố có đến 304 hồ sơ không đạt chuẩn, cùng hàng loạt vụ ngâm tẩm hóa chất quy mô lớn bị phát hiện.

Ban Quản lý An toàn thực phẩm Thành phố Hồ Chí Minh có vai trò và kết quả xử lý vi phạm ra sao? Ban Quản lý là cơ quan đầu mối liên ngành thực hiện thanh tra và xử lý vi phạm. Điển hình trong tháng 7 năm 2019, cơ quan đã ban hành 84 quyết định xử phạt vi phạm hành chính, xử phạt nhà hàng Gang Nam BBQ và buộc tiêu hủy 210 kg thịt heo không rõ nguồn gốc xuất xứ.

Chương trình truy xuất nguồn gốc thực phẩm tại Thành phố Hồ Chí Minh đã đạt những kết quả gì? Thành phố đã triển khai đề án truy xuất nguồn gốc thịt heo từ tháng 12 năm 2016 với hơn 10 cơ sở giết mổ và hàng trăm trang trại tham gia. Đến tháng 1 năm 2017, chương trình mở rộng sang rau xanh, cấp chứng nhận an toàn cho gần 100 trang trại VietGAP cung ứng hàng trăm nghìn tấn rau sạch.

Hành vi sử dụng chất tẩy trắng và hàn the trong chế biến thực phẩm bị xử lý như thế nào? Hành vi này bị xử phạt hành chính nặng, đình chỉ hoạt động, buộc tiêu hủy toàn bộ tang vật như vụ tịch thu gần 2 tấn ngó sen và 6,3 tấn cà rốt hóa chất. Trường hợp đủ yếu tố cấu thành tội phạm sẽ bị khởi tố theo Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015 với khung hình phạt tù nghiêm khắc.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về 8 quyền cơ bản của người tiêu dùng và trách nhiệm của nhà sản xuất trong lĩnh vực an toàn thực phẩm.
  • Phản ánh thực trạng tỷ lệ vi phạm an toàn thực phẩm ở mức cao 37,75% trên tổng số 22.530 cơ sở được kiểm tra tại địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Chỉ rõ những bất cập từ 134 văn bản quản lý chồng chéo và sự bất khả thi của nghĩa vụ chứng minh lỗi trong tố tụng bồi thường dân sự.
  • Đề xuất 4 nhóm giải pháp đột phá về hoàn thiện nguyên tắc suy đoán lỗi, thống nhất cơ quan quản lý chuyên trách và siết chặt chế tài hình sự theo Điều 317 Bộ luật Hình sự 2015.
  • Xác lập định hướng phát triển chuỗi cung ứng thực phẩm sạch VietGAP và bắt buộc số hóa tem truy xuất nguồn gốc điện tử cho 100% nông sản vào các chợ đầu mối.

Luận văn thạc sĩ của tác giả Đinh Thành Trung là công trình nghiên cứu chuyên sâu, đóng góp luận cứ khoa học quan trọng cả về mặt lập pháp và thực tiễn quản lý nhà nước tại đô thị loại đặc biệt. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và cộng đồng doanh nghiệp cần nhanh chóng tham khảo, ứng dụng các đề xuất trong công trình để hoàn thiện khung pháp lý và bảo đảm an toàn bữa ăn cho hơn 8,9 triệu người dân thành phố.