Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 1. Khái niệm bảo vệ người tiêu dùng 1.Quyền lợi người tiêu dùng Quyền lợi NTD trong lĩnh vực ATTP bao gồm những quyền năng cơ bản và phát sinh của người tiêu dùng khi họ tham gia vào quan hệ mua bán trong lĩnh vực ATTP và có thể kéo dài trong suốt quá trình sử dụng sản phẩm, dịch vụ. Theo điều 8 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định có tám quyền cơ bản: Quyền được bảo đảm; Quyền được cung cấp thông tin; Quyền được lựa chọn; Quyền được góp ý; Quyền được tham gia xây dựng và thực thi; Quyền được yêu cầu; Quyền được khiếu nại; Quyền được tư vấn.
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Chính vì người tiêu dùng yếu thế trong các mối quan hệ với các nhà sản xuất, kinh doanh cho nên người tiêu dùng không thể đưa ra các chọn lựa phù hợp và đúng đắng với lợi ích của họ. Vì lý do đó, Nhà nước phải can thiệp để bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng. Có hai cách tiếp cận chủ đạo trên thế giới mà thông qua đó Nhà nước bảo vệ lợi ích của người tiêu dùng [11, tr.10-11]: Một là, xây dựng một hệ thống pháp luật trong đó quy định trách nhiệm pháp luật đối với các bên sau khi đã xảy ra vi phạm; Đây là cách tiếp cận mà theo đó các bên liên quan phải bồi thường thiệt hại sau khi xảy ra thiệt hại thực sự. Theo cách tiếp cận này, các cơ quan phân xử, trong đại đa số các trường hợp là các toà án, bao gồm cả các toà chuyên biệt, sẽ quyết định mức độ bồi thường thiệt hại, căn cứ trên bản chất và thực tế vụ việc.
Các bên liên 8 quan phải chịu bồi thường thiệt hại do sai sót mà đã họ gây ra, nhưng chỉ sau khi bên bị thiệt hại đã kiện ra toà hoặc khiếu nại đến các cơ quan chức năng có thẩm quyền khác, với đầy đủ căn cứ và bằng chứng chứng minh thiệt hại của mình và hành vi vi phạm của bên kia có mối quan hệ nhân quả với nhau. Hai là, xây dựng hệ thống pháp luật hoàn thiện điều chỉnh, ngăn chặn trước các hành vi vi phạm để giảm thiểu tối đa vi phạm. Cách tiếp cận thứ hai này mang tính ngăn chặn, phòng ngừa. Theo cách tiếp cận này, một hệ thống quy chuẩn phải được thiết lập, không liên quan đến việc có xảy ra thiệt hại thực sự cho người tiêu dùng hay không.
Các vụ việc, hay cả một nhóm các vấn đề, đều có thể được điều chỉnh bởi các quy định chuẩn chung này, giảm thiểu khả năng xảy ra việc phải phân định đúng sai, hay giúp tránh các phán quyết không nhất quán và thiếu công bằng trên cơ sở vụ việc. Và trong đại đa số các trường hợp, các cơ quan chức năng sẽ sử dụng các thủ tục hành chính để xem xét các thông tin kỹ thuật có liên quan, nhằm đi đến kết luận cuối cùng. Khái niệm an toàn vệ sinh thực phẩm Đảm bảo an toàn thực phẩm (ATTP) luôn được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm vì xuất phát từ tầm quan trọng của nó; bảo đảm ATTP trước hết là chăm lo sức khỏe của nhân dân, phát triển kinh tế, an sinh xã hội và phục vụ cho tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Đảng và Nhà nước ta thường xuyên chỉ đạo và đưa ra nhiều giải pháp nhằm không ngừng hoàn thiện pháp luật về ATTP, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về ATTP.
Nhiều văn bản quy phạm pháp luật về ATTP đã được ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực ATTP. Các cấp, các ngành đã vào cuộc và tạo được sự chuyển biến tích cực đã được ghi nhận ở nhiều địa phương, đơn vị, đặc biệt ở những thành phố lớn. Tuy nhiên, nhìn về tổng thể, công tác bảo đảm ATTP vẫn là vấn đề thách thức to lớn ở nước ta. Ngộ độc 9 thực phẩm và các mối nguy đe dọa mất an toàn thực phẩm tiếp tục là những vấn đề quan tâm hàng đầu đối với sức khỏe cộng đồng, an sinh xã hội và tăng trưởng kinh tế.
Các giải pháp giải quyết vấn đề này đang được đặt ra rất cấp bách, nhất là việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về ATTP. Do vậy cần thiết phải có các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước đặt ra và bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực an toàn thực phẩm, tạo lập trật tự, ổn định xã hội. An toàn thực phẩm là toàn bộ những vấn đề cần xử lý đến việc đảm bảo an toàn vệ sinh đối với thực phẩm nhằm bảo đảm sức khỏe cho người tiêu dùng. Đây là một vấn đề lớn lớn mà các nước phát triển và đang phát triển phải đối mặt hằng ngày và trong đó có Việt Nam.
An toàn thực phẩm là việc chế biến, xử lý, lưu trữ và bảo quản các loại thực phẩm bằng các phương pháp phòng chống, phòng ngừa bệnh tật do thực phẩm gây ra. An toàn thực phẩm cũng gồm các thói quen, thao tác khi chế biến cần phải được thực hiện để tránh các nguy cơ sức khỏe đến người tiêu dùng. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tiến hành nhiều nghiên cứu công phu và đi đến kết luận, thực phẩm không an toàn có thể gây ra những vấn đề rất lâu dài với sức khỏe của người dùng. Khái niệm thực phẩm an toàn (hay thực phẩm sạch) khá rộng và trừu tượng, nên có nhiều quan niệm khác nhau.
Theo WHO, thực phẩm đạt mức an toàn là khi không chứa hoặc chứa hàm lượng ở mức chấp nhận được các chất ô nhiễm hay vi khuẩn mà bình thường có thể gây nhiễm độc, hoặc bất kỳ chất nào khác có thể khiến thực phẩm trở nên có hại cho sức khỏe. Nói cách khác, thực phẩm an toàn là loại thực phẩm cung cấp các chất dinh dưỡng phù hợp, thiết yếu mà không gây hại cho sức khỏe của người sử dụng do các loại ô nhiễm hóa chất, ô nhiễm sinh học hay các hình thức ô nhiễm khác gây ra. 10 Gắn liền với khái niệm thực phẩm an toàn là khái niệm an toàn thực phẩm. WHO định nghĩa, an toàn thực phẩm có nghĩa là bảo đảm thực phẩm sẽ không gây hại cho con người cả trong quá trình chuẩn bị và/hoặc khi đã sử dụng.
Nhằm thống nhất ý chí và hành động của các quốc gia trong việc bảo đảm an toàn thực phẩm, kể từ năm 1962, Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) đã xây dựng nên Bộ quy tắc về thực phẩm và thành lập Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế - cơ quan liên chính phủ với 165 nước thành viên, nhằm xác lập các tiêu chuẩn quốc tế về thực phẩm cũng như tổ chức thực hiện các hoạt động bảo đảm an toàn thực phẩm trên phạm vi toàn cầu. Theo quy định tại Điều 2 – Luật An toàn thực phẩm năm 2010 [An toàn thực phẩm là việc bảo đảm để thực phẩm không gây hại đến sức khỏe, tính mạng con người]. Vì vậy, an toàn thực phẩm cũng bao gồm một số thói quen, thao tác trong khâu chế biến cần được thực hiện để tránh các nguy cơ sức ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe. Do vậy, để đảm bảo an toàn thực phẩm, các chủ thể cần tuân theo những quy định, điều kiện cụ thể mới có thêm đảm bảo thực phẩm không gây hại đến sức khỏe cơn người.
Điều kiện để đảm bảo an toàn thực phẩm là quy chuẩn về kỹ thuật đối với các nhà sản xuất, kinh doanh thực phẩm do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành nhằm mục đích đảm bảo thực phẩm an toàn đối với sức khỏe, tính mạng con người [39]. Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm năm 2003 là văn bản luật đầu tiên quy định toàn diện các vấn đề về vệ sinh, an toàn thực phẩm trong quá trình sản xuất, kinh doanh thực phẩm, phòng ngừa, khắc phục ngộ độc thực phẩm và truyền bệnh qua thực phẩm. Trên cơ sở đó, Chính phủ quy định chi tiết cách thức kiểm tra, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực thực phẩm. Qua 06 năm thực hiện cho thấy, Pháp lệnh này đã thật sự là một công cụ quan trọng để 11 Nhà nước quản lý công tác vệ sinh an toàn thực phẩm.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm tồn tại một số bất cập cần phải được nghiên cứu sửa đổi, hoàn chỉnh như: cùng một vấn đề nhưng quá nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh (134 văn bản của các ngành, các cấp) nên có sự chồng chéo, mâu thuẫn, trùng lặp, có vấn đề nảy sinh nhưng chưa có văn bản quy định điều chỉnh; việc phân công trách nhiệm và mối quan hệ phối hợp giữa Bộ Y tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Công thương và các Bộ, ngành liên quan chưa được rõ ràng (đặc biệt là đối với việc quản lý thực phẩm tươi sống) nên dẫn đến những khó khăn trong quá trình triển khai, phối hợp thực hiện, cũng như đùn đẩy trách nhiệm khi sự việc xảy ra. Các quy định về hệ thống thanh tra chuyên ngành về vệ sinh an toàn thực phẩm hiện mới được nêu tại Nghị định số 79/2008/NĐ-CP ngày 18/7/2008 của Chính phủ mà chưa được luật hoá nên hiệu lực pháp lý chưa cao. Mặt khác, các quy định trong Nghị định về hệ thống thanh tra chuyên ngành ATTP cũng chưa đồng nhất với pháp luật về thanh tra hiện hành…những hạn chế, bất cập trên đã được nhìn nhận, sửa đổi, tiếp tục tăng cường quản lý, kiểm soát chặt chẽ, có hiệu quả hơn về ATTP và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về ATTP. Do đó ngày 28/06/2010 Quốc hội đã thông qua dự thảo Luật An toàn thực phẩm và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2011.
Luật An toàn thực phẩm có 11 chương, 72 điều quy định một cách toàn diện về vấn đề an toàn thực phẩm. Khái niệm, đặc điểm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực an toàn thực phẩm ATTP là một lĩnh vực có yêu cầu cao về điều kiện chất lượng và tiêu chuẩn của thực phẩm. Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực ATTP rất chú trọng về tiêu chuẩn, an toàn của người tiêu dùng thực 12 phẩm.