lời mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc bố cục gồm 03 chƣơng: CHƢƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM CHƢƠNG 3. KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆN NAM CHƢƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ NGƢỜI TIÊU DÙNG 1. Khái niệm pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng 1. Khái niệm người tiêu dùng và nhu cầu bảo vệ người tiêu dùng z 6 1. Khái niệm người tiêu dùng Nhƣ chúng ta đều biết, tiêu dùng là một khâu của quá trình sản xuất.
Đó là chi tiêu cho các hàng hoá và dịch vụ của NTD và các tổ chức phi kinh tế: “Tiêu dùng là dùng của cải, vật chất để phục vụ nhu cầu sinh hoạt, sản xuất” 5, tr. Đây là một trong những hoạt động cơ bản và tự nhiên của con ngƣời, “Tiêu dùng là một hoạt động tác động đến một vật bằng cách sử dụng nó, là việc sử dụng một vật bằng cách làm cạn kiệt vật đó” 4, tr. Có sản xuất mới có tiêu dùng, không có sản xuất thì cũng không có tiêu dùng và ngƣợc lại. Mỗi ngƣời chúng ta, hàng ngày, hàng giờ đều phải tiêu dùng các hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu của cá nhân, gia đình nhƣng đã bao giờ chúng ta tự hỏi vậy NTD là ai? Ra đời và tồn tại gắn liền với nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo cơ chế thị trƣờng có sự quản lý của Nhà nƣớc theo định hƣớng xã hội chủ nghĩa, khái niệm NTD là một khái niệm khá mới mẻ ở Việt Nam.
NTD là ngƣời mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu của bản thân hoặc gia đình mình, là NTD cuối cùng “end consumer”. Sản phẩm hàng hoá qua sử dụng của NTD sẽ dần mất đi, nói chung không đƣợc tái tạo lại. Ngƣời tiêu dùng “consumer”, “consommateur” là “người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức” 23, tr. Luật BVNTD của Thái Lan năm 1979 định nghĩa: “NTD là người mua hoặc sử dụng hàng hoá, dịch vụ của một nhà kinh doanh, kể cả những người được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh”.
Luật BVNTD của Ấn Độ ngày 24/12/1986 quan niệm “NTD” là bất cứ ngƣời nào: + Mua hàng có trả tiền, đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán một phần và hứa thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần; khái niệm này bao gồm cả những ngƣời sử dụng hàng hoá đó ngoài ngƣời trực tiếp mua hàng có trả tiền, đã thanh toán hoặc hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần một khi cách này đƣợc ngƣời đó tán thành; z 7 nhƣng khái niệm này không bao gồm ngƣời mua hàng hoá đó để bán lại hoặc vì các mục đích thƣơng mại. + Thuê dịch vụ có trả tiền, đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán hoặc đã thanh toán một phần và hứa thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần; khái niệm này bao gồm cả những ngƣời đƣợc hƣởng dịch vụ đó ngoài ngƣời trực tiếp thuê dịch vụ có trả tiền, đã thanh toán hoặc đã hứa thanh toán, hoặc đã thanh toán và hứa thanh toán một phần, hoặc theo cách trả dần một khi dịch vụ này có sự tán thành của ngƣời đã đƣợc nhắc đến đầu tiên ở trên. Luật BVNTD ở Liên Xô cũ định nghĩa NTD là “công dân sử dụng, mua, đặt hàng hoặc có ý định mua sắm sản phẩm để sử dụng riêng”. Luật BVNTD của Séc và Xlôvăc số 634 ngày 16/12/1992 định nghĩa “NTD là người vì mình hoặc vì các thành viên của gia đình mình mua sắm sản phẩm hoặc sử dụng dịch vụ để tiêu dùng cho mục đích cá nhân”.
Luật Tiêu dùng của CHLB Đức định nghĩa NTD là ngƣời sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân hoặc gia đình, hay nói cách khác đó là “NTD cuối cùng”, “end consumer”. Luật Tiêu dùng Pháp định nghĩa: “NTD được hiểu là người không phải chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp, kiếm lợi nhuận để phục vụ cho gia đình hoặc bản thân” 22, tr. “NTD là người mua hàng hoá hoặc dịch vụ để sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình mà không có ý định bán lại; là một tự nhiên nhân sử dụng sản phẩm phục vụ mục đích cá nhân, không phải nhằm mục đích kinh doanh” 4, tr. “NTD là người mua hàng hoá hoặc dịch vụ nhằm mục đích cuối cùng là tiêu dùng hoặc sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình” 11, tr.
Hầu hết luật BVNTD của các nƣớc đều chỉ áp dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân và gia đình, không dùng cho tiêu dùng sản xuất vì trong phạm vi sản xuất và tiêu dùng cho sản xuất các nƣớc đều đã có nhiều quy định chi tiết, chặt chẽ trong nhiều đạo luật và quy định dƣới luật cho nhiều lĩnh vực z 8 khác nhau. Bên cạnh những điểm chung đó, định nghĩa của mỗi nƣớc lại có những sắc thái riêng khác nhau: + Định nghĩa của Thái Lan hơi hẹp chỉ bao gồm “hoặc mua, hoặc sử dụng”. + Định nghĩa của Ấn Độ nêu đƣợc nhiều chi tiết cụ thể cho những tình huống khác nhau nhƣng chỉ rõ ý mua hàng, thuê dịch vụ còn vấn đề sử dụng thì chƣa thật rõ ràng. + Định nghĩa của Liên Xô (cũ) chỉ dùng đƣợc cho hàng hoá, thiếu khâu dịch vụ.
+ Định nghĩa của Séc và Xlôvăc không nói đến vấn đề sử dụng hàng hoá. Những định nghĩa và quan niệm trên là rất quan trọng vì nó sẽ xác định ai là NTD, ai là ngƣời sẽ đƣợc bảo vệ trong các chính sách và pháp luật, quy định đƣợc ban hành về bảo vệ NTD của mỗi nƣớc. Có rất nhiều khái niệm khác nhau về NTD nhƣng qua những định nghĩa trên, có thể xác định phạm vi của khái niệm NTD nhƣ sau: Thứ nhất, NTD có thể là: + Ngƣời mua hàng hoá hoặc dịch vụ (Theo Đại Từ điển Tiếng Việt “Hàng hoá là sản vật dùng để bán nói chung”. Theo Điều 5 Luật Thƣơng mại, hàng hoá đƣợc hiểu là các tài sản hữu hình gồm: máy móc, thiết bị, nhiên liệu, vật liệu, hàng tiêu dùng, các động sản khác đƣợc lƣu thông trên thị trƣờng và nhà ở dùng để kinh doanh.
Nhƣ vậy, khái niệm “hàng hoá” theo Luật Thƣơng mại đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp. Theo tác giả, cần xem xét lại khái niệm này. z 9 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 quy định quản lý nhà nƣớc về chất lƣợng sản phẩm, hàng hoá định nghĩa: “Sản phẩm là kết quả của các hoạt động, các quá trình, bao gồm dịch vụ, phần mềm, phần cứng và vật liệu để chế biến hoặc đã được chế biến. Hàng hoá là sản phẩm được đưa vào tiêu dùng thông qua trao đổi, buôn bán”.
Cũng theo Đại Từ điển Tiếng Việt “Dịch vụ là công việc phục vụ cho đông đảo dân chúng”. Các dịch vụ gắn với hoạt động mua bán hàng hoá theo Luật Thƣơng mại cũng đƣợc hiểu theo nghĩa hẹp, bao gồm các dịch vụ đƣợc liệt kê trong Điều 45 Luật Thƣơng mại, ví dụ dịch vụ giao nhận hàng hoá, dịch vụ giám định hàng hoá. Các hoạt động tìm kiếm, thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hoá cũng chỉ đƣợc hiểu bao gồm: khuyến mại, quảng cáo thƣơng mại, trƣng bày giới thiệu hàng hoá và hội chợ, triển lãm thƣơng mại). + Ngƣời sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ; + Ngƣời mua và sử dụng hàng hoá hoặc dịch vụ.
Thứ hai, hàng hoá và dịch vụ đó nhằm phục vụ cho cá nhân và gia đình hoặc tập thể với mục đích tiêu dùng cá nhân, không phải với mục đích để buôn đi bán lại kiếm lời, cũng không phải với mục đích để sản xuất. “Tập thể” ở đây đƣợc hiểu là một cộng đồng cùng sống, cùng sinh hoạt với nhau và cùng có những nhu cầu về tiêu dùng cá nhân (không phải tiêu dùng sản xuất) ví dụ trẻ em ở nhà trẻ, học sinh, sinh viên ở nội trú, các đơn vị lao động có nhà bếp chung, nơi ăn nghỉ chung v. Có thể phân biệt giữa tiêu dùng cho sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt cá nhân theo sơ đồ sau: TIÊU DÙNG TIÊU DÙNG CHO MỤC ĐÍCH SẢN CHO MỤC ĐÍCH XUẤT SINH HOẠT CÁ NHÂN z 10 NGƢỜI NGƢỜI SẢN XUẤT TIÊU DÙNG Điều 2 Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 02/10/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh BVNTD xác định: “1. Những quy định của Nghị định này điều chỉnh đối với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ và người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt và nhu cầu công việc của tổ chức, cá nhân, gia đình.
Người mua sử dụng hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt và nhu cầu công việc của tổ chức, cá nhân, gia đình bao gồm: a. Người mua và là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình; b. Người mua hàng hoá, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng; c. Cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hoá, dịch vụ do người khác mua hoặc do được cho, tặng”.
Đồng thời, Điều 3 Nghị định này quy định: “Người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh không thuộc phạm vi điều chỉnh của Nghị định này”. Nhƣ vậy, khái niệm NTD và phạm vi điều chỉnh của Pháp lệnh BVNTD Việt Nam cũng tƣơng đồng với quy định của Quốc tế về NTD (CI) và pháp luật nhiều nƣớc trên thế giới. Sự khác nhau giữa “người tiêu dùng” và “khách hàng”: Khách hàng (thuật ngữ Tiếng Anh là “customer”, “client”) là ngƣời mua hàng hoá hoặc dịch vụ. Khác với NTD “end consumer”, khách hàng là ngƣời mua hàng hoá, dịch vụ để sử dụng cho bản thân hoặc để làm nguyên liệu cho sản xuất (ngƣời sản xuất mua sản phẩm về để tiếp tục gia công, chế biến trong quá trình sản xuất để làm ra hàng hoá) hoặc là ngƣời lƣu thông mua hàng hoá z 11 về để bán buôn hoặc bán lẻ, hoặc là ngƣời làm dịch vụ mua hàng hoá về để phục vụ cho quá trình thực hiện dịch vụ của mình.