Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT HỢP ĐỒNG THEO MẪU TRONG LĨNH VỰC TRUYỀN HÌNH TRẢ TIỀN NHẰM BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG 1. Khái quát chung về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thông qua việc kiểm soát hợp đồng theo mẫu trong lĩnh vực truyền hình trả tiền 1. Khái niệm người tiêu dùng Người tiêu dùng là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các chủ thể dùng sản phẩm hoặc dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế mà không nhằm mục đích kinh doanh kiếm lợi. Khái niệm người tiêu dùng được dùng trong nhiều văn cảnh khác nhau vì thế cách dùng và tầm quan trọng của khái niệm này có thể rất đa dạng.
Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các nước trên thế giới có ba cách quy định khác nhau về khái niệm người tiêu dùng: Cách thứ nhất: Chỉ quy định người tiêu dùng là thể nhân (hoặc cá nhân) [3, tr. Cách quy định này thể hiện rõ luật bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật bảo vệ NTD không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ. Có thể kể đến quy định tại bản Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành từ năm 1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999; quy định của Pháp luật Hoa Kỳ; quy định của Pháp luật Pháp; quy định của pháp luật Nhật Bản…[3, tr. Trong bản Hướng dẫn của Liên Hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành từ năm 1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999, khái niệm người tiêu dùng không được giải thích một cách rõ ràng.
Tuy nhiên, theo bản hướng dẫn này người tiêu dùng được hưởng 8 quyền sau đây: (1) quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, (2) quyền được an toàn, (3) quyền được thông tin, 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com (4) quyền được lựa chọn, (5) quyền được lắng nghe, (6) quyền được khiếu nại và bồi thường, (7) quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng, (8) quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững [6, tr. Xem xét tổng thể nội dung của 8 quyền, có thể thấy rằng, đây chỉ có thể là các quyền mà chỉ chủ thể là cá nhân con người mới đầy đủ tư cách để thụ hưởng. Nói cách khác, 8 quyền năng này không thể trao trọn vẹn cho chủ thể là tổ chức. Điều này cũng có nghĩa rằng, trong quan niệm của Bản hướng dẫn vừa nêu, người tiêu dùng chỉ được hiểu là cá nhân người tiêu dùng.
Theo Luật của Hoa Kỳ, các quy định về bảo vệ người tiêu dùng ở Hoa Kỳ nằm cả ở pháp luật của Liên Bang và pháp luật của các Bang. Tuy không có một đạo luật chung thống nhất về bảo vệ người tiêu dùng mà trong đó khái niệm người tiêu dùng được giải thích rõ ràng, nhưng theo các chuyên gia pháp luật của Hoa Kỳ, khái niệm người tiêu dùng chỉ được quan niệm là cá nhân người tiêu dùng. Cụ thể, “Người tiêu dùng là cá nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình” [29, tr. Theo pháp luật của Pháp thì người tiêu dùng theo quan niệm của pháp luật Pháp cũng chỉ là các cá nhân nhưng không bao gồm các cá nhân khi thực hiện hành vi mua sắm hàng hóa, dịch vụ để phục vụ hoạt động kinh doanh hoặc hoạt động có tính nghề nghiệp của mình.
Đối với luật của Nhật thì tại khoản 1 điều 2 Luật về Hợp đồng tiêu dùng (tức là hợp đồng giao kết giữa người tiêu dùng với thương nhân) của Nhật Bản năm 2000 giải thích rõ: người tiêu dùng theo quy định của luật này là cá nhân nhưng không bao gồm cá nhân tham gia hợp đồng với mục đích kinh doanh. Điều đó cho thấy, pháp luật của nhiều nước tập trung bảo vệ cho nhóm người tiêu dùng yếu thế nhất, cần được bảo vệ nhất - đó chính là các cá nhân tham gia mua sắm hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh hoạt tiêu dùng của bản thân cá nhân hoặc của gia đình mình. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng có một số điểm hạn chế bởi lẽ theo quy định của pháp luật thì pháp nhân có nhiều loại bao gồm cả doanh nghiệp và các cơ quan tổ chức khác trong xã hội. Các đối tượng này họ cũng có hoạt động tiêu dùng thông thường mà không phải các quan hệ mua bán của họ đều là các quan hệ thương mại.
Do đó trong quan hệ tiêu dùng họ cũng không phải là những người chuyên nghiệp và cũng như các cá nhân, họ cũng không có sẵn nguồn lực để đối phó với những hành vi vi phạm từ phía nhà sản xuất và cũng rất cần tới sự bảo vệ của pháp luật bảo vệ NTD. Cách thứ hai là quy định NTD bao gồm cả thể nhân và pháp nhân. Trong số này, phải kể đến pháp luật của Ấn Độ và Đài Loan (Trung Quốc). Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Ấn Độ năm 1986 có một số quy định như sau (Điều 2(1d) và 2(1m)): Điều 2(1d): “Người tiêu dùng là bất cứ người nào mua … hàng hóa… mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thương mại khác.” Điều 2(1m) giải thích chữ “người” (nhân) ở đây được hiểu bao gồm: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội.
Quy định này tuy có vẻ hơi rộng và có thể có quan điểm cho rằng nó sẽ làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ NTD. Tuy nhiên cách quy định này đã khắc phục được hạn chế của cách quy định thứ nhất vì không phải lúc nào pháp nhân cũng là người đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật bảo vệ NTD không bảo vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội bị xâm phạm, gây thiệt hại chung cho toàn xã hội. Cách thứ ba là không nêu rõ chỉ là cá nhân hay gồm cả cá nhân và pháp nhân. Cách quy định này chỉ nói là “người nào” hoặc “những ai”.
Điều 3 của Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 1999 của Malaysia quy định: “người tiêu dùng là người mua hoặc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích sinh hoạt cá nhân hoặc sinh hoạt gia đình… và không gồm việc mua hoặc sử dụng hàng 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hóa vì mục đích chính để bán lại hoặc đưa vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ khác hoặc để dùng cho việc sửa chữa, gắn thêm vào hàng hóa khác. Cách quy định này có thể dẫn tới nhiều cách hiểu khác nhau và khó có thể được áp dụng trong thực tiễn bởi lẽ nó có thể được hiểu là gồm cả cá nhân và pháp nhân, nhưng cũng có thể giải thích theo hướng chỉ là cá nhân. Theo pháp luật Việt Nam được thể hiện tại Điều 3 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng thì: “Người tiêu dùng” là các cá nhân, tổ chức mua hoặc sử dụng hợp pháp hàng hoá, dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh. Như vậy pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam đã nêu rõ cả pháp nhân và thể nhân đều được coi là người tiêu dùng khi họ mua sử dụng nhằm mục đích tiêu dùng không nhằm mục đích kinh doanh, bán lại và họ được bảo vệ trước những vi phạm từ nhà sản xuất.
Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền và các loại dịch vụ truyền hình trả tiền 1. Khái niệm về dịch vụ truyền hình trả tiền Theo quy định tại điều 3 mục giải thích từ ngữ trong Quy chế Quản lý hoạt động truyền hình trả tiền (Ban hành kèm theo Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg ngày 24 tháng 3 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ) thì Dịch vụ truyền hình trả tiền được hiểu là dịch vụ ứng dụng viễn thông để truyền dẫn, phân phối các kênh chương trình, chương trình truyền hình trả tiền và các dịch vụ giá trị gia tăng trên hạ tầng kỹ thuật cung ứng dịch vụ truyền hình trả tiền đến các thuê bao truyền hình trả tiền theo hợp đồng cung cấp dịch vụ hoặc các thỏa thuận có tính ràng buộc tương đương. Dịch vụ truyền hình trả tiền có thể được cung cấp trực tiếp (dịch vụ truyền hình trực tuyến) hoặc theo yêu cầu (dịch vụ truyền hình theo yêu cầu) đến các thuê bao truyền hình trả tiền. Tuy nhiên theo Nghị định số 06/2016 NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 18 tháng 1 năm 2016 quy định về quản lý, cung cấp và sử dụng dịch vụ phát thanh, 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com truyền hình thay thế Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg nêu trên đã đưa ra khái niệm dịch vụ truyền hình trả tiền như sau “dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch vụ do doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền cung cấp cho người sử dụng dịch vụ có áp dụng biện pháp kỹ thuật để quản lý, kiểm soát và ràng buộc điều kiện thu tín hiệu”.
Như vậy, qua hai định nghĩa nêu trên có thể hiểu dịch vụ truyền hình trả tiền là dịch vụ do doanh nghiệp được phép cung cấp dịch vụ cho người sử dụng và có thu phí, đặc điểm chính yêu cầu của phương thức thực hiện truyền hình trả tiền là phải có khả năng đáp ứng được việc truyền dẫn được nhiều kênh truyền hình, các dịch vụ giá trị giá tăng và đặc biệt là phải có khả năng quản lý được các chương trình đến từng đầu thu giải mã (cần có hệ thống khóa mã). Trên thế giới, truyền hình trả tiền đang chiếm tỷ trọng lớn về doanh thu so với các hình thức kinh doanh khác, nhiều nước còn vượt cả doanh thu quảng cáo vì lợi thế của nó. Truyền hình trả tiền xuất hiện manh nha ban đầu vào năm 1982, đến năm 1984. Teleclup - đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đầu tiên - chính thức hoạt động mạnh tại Zurich, Thụy Sĩ.
Đến năm 1985, số lượng thuê bao của Teleclub đã lên đến 40. Năm 1986, lần đầu tiên truyền hình trả tiền có mặt tại Cộng hòa Liên bang Đức. Tại Mỹ vào cuối năm 1987 số lượng hộ gia đình sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiến đã lên tới 30%.