Chương 1: Khái quát chung về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập. * * * Tác giả xin bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đến TS. Nguyễn Viết Tý, cùng các thầy cô giáo và bạn bè, đồng nghiệp đã đóng góp ý kiến, nhiệt tình giúp đỡ để tác giả hoàn thành luận văn này. Cho dù đã rất cố gắng, dành tâm huyết, song vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hợp đồng gia nhập vẫn còn rất mới mẻ ở Việt Nam và do thời gian có hạn nên luận văn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, các bạn đồng nghiệp và những người quan tâm đến vấn đề này. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG HỢP ĐỒNG GIA NHẬP 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG 1. Khái niệm ngƣời tiêu dùng Tiêu dùng là quá trình tiêu hao các tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt nhằm phục vụ cho các nhu cầu khác nhau trong đời sống con người vì sự phát triển không ngừng của xã hội.
Bởi vâ ̣y, có thể phân chia tiêu dùng thành hai loại: tiêu dùng sản xuấ t và tiêu dùng đời số ng , theo đó tiêu dùng sản xuấ t là sự tiêu hao tư liê ̣u sản xuấ t trong quá triǹ h sản xuấ t vâ ̣t chấ t , còn tiêu dùng sinh hoa ̣t là s ự tiêu hao tư liệu sinh hoạt trong quá trình sinh sống và phát triển của con người. Tiêu dùng sản xuất vốn là để phục vụ cho tiêu dùng đời sống bởi không có tiêu dùng đời sống, không có sự tiêu hao tư liệu sinh hoạt trong quá trình sinh sống và phát triển của con người thì sản xuất cũng mất hết ý nghĩa và trở thành sản xuất không có mục đích, biến thành sản xuất dự trữ lãng phí đặc biệt [11]. Do vâ ̣y, hiể u theo nghiã he ̣p ti êu dùng là việc sử dụng của cải vật chất để thoả mãn các nhu cầu của đời sống sinh hoạt hàng ngày [24]. Nói cách khác, tiêu dùng đươ ̣c hiể u l à tiêu dùng đời sống, là mục đích cuối cùng của hoạt động kinh tế của loài người.
Đây cũng là một khâu quan trọng và có ảnh hưởng quyết định tới sản xuất, bởi sản xuất luôn cần đến tiêu dùng đời sống để mỗi sản phẩm làm ra thực sự đi vào tiêu dùng, được tiêu dùng, hoàn thành chức năng là sản phẩm. Khái niệm người tiêu dùng Như trên đã nói, tiêu dùng đời sống được coi là mục đích cuối cùng của quá trình sản xuất. Chủ thể thực hiện các hoạt động tiêu dùng đời sống, đồng thời là 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đối tượng phục vụ của nhà sản xuất và cung ứng sản phẩm trên thị trường chính là người tiêu dùng. Tiếng Anh sử dụng từ “consumer” với nghĩa người tiêu dùng để phân biệt với “customer” - người mua, khách hàng nói chung, theo đó “khách hàng” mang nghĩa rộng hơn, dùng để chỉ người mua hàng hoá, dịch vụ để sử dụng cho bản thân hoặc làm nguyên liệu cho sản xuất, kinh doanh.
Với cách định nghĩa này, các luật gia tư sản “khi xác định một người nào đó có phải là người tiêu dùng hay không thường dựa trên cơ sở: Người đó có sử dụng mặt hàng đó hoặc dịch vụ nhằm thoả mãn nhu cầu của cá nhân hoặc của gia đình họ hay không. Hoặc nói khác đi – theo thuật ngữ của các luật gia Cộng hoà Liên bang Đức – có phải là người tiêu dùng cuối cùng hay không” [27]. Còn theo quan điểm chiếm ưu thế trong luật học Pháp, khái niệm “người tiêu dùng” được hiểu là người không phải chủ doanh nghiệp, tức là thể nhân mua các sản phẩm và dùng các dịch vụ không nhằm mục đích hoạt động nghề nghiệp hay tìm kiếm lợi nhuận mà là để phục vụ cho gia đình hoặc cho bản thân. “Chính sự đánh đồng người tiêu dùng với người không phải chủ doanh nghiệp là xuất phát điểm của luật pháp và thực tiễn tư pháp của Pháp” [27].
Bảo hộ lợi ích người tiêu dùng theo pháp luật bảo vệ người tiêu dùng của Pháp là bảo hộ lợi ích của các cá nhân có hoạt động tiêu dùng đơn thuần. “Người tiêu dùng là người mua hàng hoá hoặc dịch vụ để sử dụng cho cá nhân, gia đình hoặc hộ gia đình mà không có ý định bán lại; là một tự nhiên nhân sử dụng sản phẩm phục vụ mục đích cá nhân, không phải nhằm mục đích kinh doanh” [30], nói cách khác người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng. Luật bảo vệ người tiêu dùng của các nước khác cũng có cách định nghĩa tương tự về người tiêu dùng. Theo Luật bảo vệ người tiêu dùng Malaysia năm 1999, “người tiêu dùng” là người: (a) nhận được hàng hóa hoặc dịch vụ để sử dụng cho mục 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đích cá nhân, sử dụng trong hộ gia đình, sử dụng hoặc tiêu dùng, và (b) không sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc dùng hàng hóa dịch vụ vào mục đích: (i) cung cấp lại vì mục đích thương mại; (ii) tiêu dùng chúng vào quá trình sản xuất; hoặc (iii) trong trường hợp hàng hóa, dịch vụ sửa chữa hoặc xử lý, các hàng hóa và tài sản gắn liền với đất khác; Luật bảo vệ người tiêu dùng Ấn Độ năm 1986 định nghĩa người tiêu dùng theo 2 cách, theo hàng hóa và theo dịch vụ: Người tiêu dùng hàng hóa là người mua bất kỳ loại hàng hóa nào vì một mục đích nhất định, bao gồm cả người sử dụng không có sự cho phép của người mua, được gọi là một người tiêu dùng hàng hóa, nhưng không bao gồm người bán lại hàng hóa hoặc sử dụng hàng hóa vì các mục đích thương mại – sau Luật sửa đổi bổ sung năm 1993, mục đích thương mại không bao gồm những hàng hóa chỉ được sử dụng vì mục đích tự thuê mướn hoặc kiếm sống.
Xét trên phương diện dịch vụ, người tiêu dùng có nghĩa là một người thuê bất kỳ dịch vụ nào vì một mục đích nhất định hoặc một người được hưởng lợi của dịch vụ đó, nhưng phải hưởng lợi của dịch vụ đó với sự cho phép của người mà thực sự thuê dịch vụ đó. Định nghĩa dịch vụ của Luật bảo vệ người tiêu dùng Ấn Độ khá rộng bởi nó bao trùm cả các dịch vụ như ngân hàng, tài chính do bất cứ cá nhân hay tổ chức nào cung cấp, bao gồm các cam kết trong lĩnh vực công và các cơ quan chính phủ hay những tổ chức tương đương. Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 của Việt Nam cũng có sự tương đồng về khái niệm người tiêu dùng như pháp luật của các nước. Theo quy định tại Điều 1 của Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 và Điều 2 Nghị định 69/2001/NĐ-CP ngày 2/10/2001 quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh nói trên: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhân, gia đình và tổ chức”, bao gồm: “(a) Người mua và là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình; (b) Người mua hàng hoá, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng; (c) Cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hoá, dịch vụ do người khác mua hoặc do được cho, tặng”.
Cách định nghĩa “người tiêu dùng” ở đây đã có sự phân biệt hai chủ thể tiêu dùng khác nhau: người tiêu dùng là cá nhân và người tiêu dùng là tổ chức với cùng một mục đích: tiêu dùng sinh hoạt. Nhìn chung cách quy định này làm phạm vi chủ thể được bảo vệ là tương đối rộng, song theo cách lý giải của nhà làm luật, không phải lúc nào tổ chức cũng đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu pháp luật bảo vệ người tiêu dùng không bảo vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội bị xâm phạm, gây thiệt hại chung cho toàn xã hội. Bởi vậy, Dự thảo 5 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt Nam vẫn giữ cách quy định như Pháp lệnh năm 1999, chỉ có điểm khác là dự thảo Luật chỉ rõ hơn “Người tiêu dùng là tổ chức, cá nhân mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ không nhằm mục đích bán lại”[10] để phân biệt người tiêu dùng với nhà sản xuất, kinh doanh luôn lấy lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu. Như vâ ̣y , có hai cách quy định về người tiêu dùng trong pháp luật các nước , theo đó (i) quy đinh ̣ người tiêu dùng chỉ là thể nhân (hoă ̣c cá nhân) và (ii) quy đinh ̣ rõ người tiêu dùng là thể nhân và pháp nhân.
Nhà làm luật Việt Nam theo quan điể m thứ hai khi cho rằ ng có ha i nhóm chủ thể tiêu dùng cầ n đươ ̣c bảo vê ̣ : người tiêu dùng là cá nhân và người tiêu dùng là tổ chức. Nhóm thứ nhất , người tiêu dùng là cá nhân , đươ ̣c hiể u là con người cu ̣ thể thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng tiêu dùng hàng hóa , dịch vụ cho đời số ng sinh hoa ̣t hàng ngày của chính mình và của gia đình. Nhóm thứ hai , người tiêu dùng là tổ chức , bao gồ m các cơ quan Nhà nước , các doanh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiê ̣p và các tổ chức khác như trường ho ̣c , bê ̣nh viê ̣n , nhà thờ. tiêu dùng hàng hóa , dịch vụ để phục vụ cho các cán bộ , nhân viên của ho ̣.
Khác với người tiêu dùng là cá nhân , tổ chức thực hiê ̣n hoa ̣t đô ̣ng mua bán hàng hóa, dịch vụ thường phải thông qua cơ chế đa ̣i diê ̣n và giá trị giao dịch giữa những đối tượng này với nhà kinh doanh là tương đối lớn .