Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Chương 3:Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay. 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG 1.1 Khái niệm, đặc điểm, điều kiện khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng 1.
Các khái niệm cơ bản Khái niệm vụ án dân sự: Vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện nay đó là các tranh chấp nảy sinh từ các quan hệ hôn nhân và gia đình, lao động, kinh doanh, thương mại, đất đai, nhà ở và các quan hệ dân sinh trong đời sống xã hội. Việc các chủ thể của những quan hệ đó có tranh chấp và được cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước giải quyết được gọi là các vụ án dân sự. Có thể hiểu một cách đơn giản, vụ án dân sự là các tranh chấp xảy ra giữa các đương sự mà theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì cá nhân, tổ chức tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Khái niệm vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: “Vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là vụ án mà bên khởi kiện là người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy định của Luật này”.
[14] Khái niệm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Các tranh chấp dân sự được coi là vụ án dân sự khi có chủ thể trong quan hệ tranh chấp đó đưa vấn đề tranh chấp ra trước tòa án để được giải quyết đó gọi là “khởi kiện”. Khởi kiện theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự (BLTTDS) bao gồm khởi kiện của người khởi kiện (khởi kiện của nguyên đơn), khởi kiện của bị đơn (trong trường hợp có yêu cầu phản tố) và khởi kiện của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong trường hợp có yêu cầu độc lập). Vậy, khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là việc người tiêu dùng hoặc tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng. Đặc điểm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Để hiểu được đặc điểm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ta đi làm rõ các đặc điểm chủ yếu liên quan đến bản chất của chủ thể, quan hệ pháp luật.
- Đặc điểm của chủ thể trong khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD Chủ thể trong khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD bao hàm hai đối tượng là người khởi kiện (sau đây gọi chung là “Người tiêu dùng”) và người bị khởi kiện (gọi chung là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ). Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng nắm trong tay quyền lực to lớn. Thị trường chủ yếu do NTD điều tiết. Là lực lượng đông đảo nhất trong xã hội, quyết định tiêu dùng của NTD ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh doanh hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.
NTD quyết định hàng hoá, dịch vụ mà tổ chức, cá nhân sẽ kinh doanh. Mức độ tiêu dùng của NTD chính là thước đo cho sự tồn tại của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.[10] Ở Việt Nam, khái niệm người tiêu dùng chỉ thực sự được biết đến và quan tâm khi nền kinh tế thị trường hình thành. Khái niệm người tiêu dùng được định nghĩa trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27/4/1999 thì "Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức" (Điều 1). Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010 ra đời thay thế Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 có nhiều quy định mới so với Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD, tuy nhiên, nội hàm khái niệm NTD vẫn không thay đổi “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức” [14].
Như vậy, cơ sở để xác lập tư cách NTD theo pháp luật Việt Nam bao gồm: (1) Về tư cách chủ thể thì người tiêu dùng có thể là cá nhân, gia đình hoặc tổ chức (cá nhân, pháp nhân). (2) Sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, 7 gia đình, tổ chức. Tuy nhiên, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010 không hề đưa ra bất kỳ khái niệm nào về hàng hóa, dịch vụ, mặc dù đây là khái niệm cơ bản và rất quan trọng để xác định phạm vi điều chỉnh của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD. (3) Quan hệ tiêu dùng được xác lập thông qua hợp đồng mua bán, cung ứng dịch vụ hoặc phát sinh trên cơ sở sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
Khi là một tập hợp đông đảo, NTD có vị thế quan trọng như vậy, nhưng thực chất trong mối quan hệ với người kinh doanh hàng hoá, dịch vụ với từng NTD đơn lẻ, NTD luôn đứng ở vị trí thế yếu, quyền lợi của họ dễ bị người kinh doanh hàng hoá, dịch vụ xâm phạm. Điều đó thể hiện ở các khía cạnh sau đây: + Yếu thế trong việc tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng hoá, dịch vụ. + Yếu thế về năng lực tài chính. + Yếu thế trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng.
+ Yếu thế về khả năng gánh chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm. + Yếu thế về khả năng tiếp cận pháp luật. Thứ nhất, yếu thế trong việc tiếp cận, xử lý và hiểu các thông tin về hàng hóa, dịch vụ: Việc tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ tự nguyện cung cấp thông tin, minh bạch khả năng và hoạt động của mình là sự duy ý chí. Họ chỉ thực hiện điều đó khi nhà nước có sự can thiệp trong đó can thiệp hữu hiệu nhất là bằng công cụ pháp luật.
Nhưng thực tế không thể trông chờ toàn bộ vào nhà nước mà nhà nước làm việc đó do sức ép của xã hội dân sự và đôi khi nhờ xã hội dân sự nhà nước có được thông tin. NTD nhận thông tin đã qua “bộ lọc” của Chính phủ và nhiều người cảm thấy yên tâm và tuyệt đối tin tưởng vào “bộ lọc” này. Tuy nhiên không ít người tự sàng lọc lấy thông tin vì họ muốn dùng khả năng đánh giá của mình hơn là những “bộ lọc” đó. Xã hội dân sự dưới dạng các 8 tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ, các phong trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật sư….
sẽ đem đến sự đa dạng về thông tin cho các đối tượng có nhu cầu khác nhau. Qua đó sẽ thiết lập thế quân bình trong thông tin khi mà nhà nước không muốn hoặc không thể cung cấp thông tin cho xã hội. Mặt khác đây cũng là nguồn thông tin hữu ích cho nhà nước làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách và pháp luật của nhà nước. Chỉ khi không còn hạn chế về thông tin, thì NTD mới có đầy đủ quyền lựa chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với mục đích của mình, đồng thời một thị trường cạnh tranh lành mạnh mới được hình thành.
Thực tế cho thấy sự hạn chế về thông tin là lí do phát sinh các khuyết tật của thị trường như: lừa đảo, trái với các quy luật thị trường, méo mó thị trường, cạnh tranh không lành mạnh… và đương nhiên NTD là đối tượng chịu hậu quả đầu tiên và nặng nề nhất. Trước tình trạng hạn chế về thông tin giữa các chủ thể của thị trường thì nhà nước với công cụ pháp luật sẽ thực hiện vai trò điều tiết xã hội, lành mạnh hóa thị trường thông qua những quy định về quyền nghĩa vụ thông tin của các bên, các quy định phạt vi phạm nghĩa vụ thông tin… Trong khi đó, vai trò thông tin bổ trợ của xã hội dân sự sẽ góp phần khỏa lấp những khoảng trống về thông tin mà nhà nước không đảm đương được. Thông tin về thị trường từ xã hội dân sự cũng là những thông tin mà người ta có thể kiểm chứng một cách cụ thể nhất. Thứ hai, yếu thế về năng lực tài chính: Thực tiễn giải quyết tranh chấp phản ánh NTD có quyền lợi bị xâm phạm luôn phải đứng trước việc lựa chọn theo đuổi việc khiếu nại, đòi bồi thường thậm chí khởi kiện với rủi ro rất lớn về tài chính (từ khi bắt đầu tới khi giải quyết vụ việc, không cần biết kết quả) hoặc từ bỏ lợi ích liên quan do hạn chế về tài chính.
Thứ ba, yếu thế trong việc đàm phán: Người tiêu dùng bị xâm phạm về lợi ích bởi hàng hóa mua tiêu dùng, năng 9 lực hạn chế về tài chính, thông tin và tâm lý sẽ khiến cho NTD rơi vào trạng thái hoang mang, dễ dàng thỏa hiệp khi đàm phán với chủ thể thương nhân. Điều này thực tế được tổ chức, cá nhân cung ứng hàng hóa tận dụng khá triệt để để giải quyết các vấn đề phát sinh liên quan tới hàng hóa, dịch vụ khuyết tật. Ban đầu có thể coi các tranh chấp này được giải quyết một cách đúng đắn, nhanh gọn và đạt được sự thỏa mãn về lợi ích giữa các bên nhưng thực tế NTD bị đặt vào tình huống không có lựa chọn thương lượng quyền lợi và lợi ích không được bảo toàn ngay ở giai đoạn đàm phán lợi ích. Thứ tư, yếu thế về khả năng gánh chịu rủi ro trong quá trình tiêu dùng sản phẩm: Cũng giống như hạn chế về thông tin và năng lực đàm phán, yếu thế về khả năng chấp nhận rủi ro của NTD đơn lẻ là rõ ràng nếu không có một năng lực tài chính đủ mạnh, một tổ chức đại diện đủ uy tín để đứng ra bảo vệ quyền lợi.