CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC VỆ SINH AN TOÀN THỰC PHẨM 1. Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1. Khái niệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng NTD là chủ thể trong quan hệ thương mại, đóng vai trò là bên mua và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của bên bán. NTD hay người tiêu thụ là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các cá nhân hoặc hộ gia đình dùng sản phẩm hoặc dịch vụ sản xuất trong nền kinh tế.
Khái niệm NTD được dùng trong nhiều văn cảnh khác nhau vì thế cách dùng và tầm quan trọng của khái niệm này có thể rất đa dạng. NTD là người có nhu cầu, có khả năng mua sắm các sản phẩm dịch vụtrên thị trường phục vụ cho cuộc sống, NTD có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình. Tùy vào quan điểm kinh tế học khác nhau mà khái niệm NTD cũng có nhiều cách tiếp cận không giống nhau. Tại Mỹ, NTD được xác định là người cuối cùng sử dụng, tiêu dùng hàng hóa, ý tưởng, dịch vụ nào đó.
NTD cũng được hiểu là người mua hoặc ra quyết định như là NTD cuốn cùng (Ví dụ một người mẹ mua sữa bột cho đứa trẻ cũng được gọi là NTD mặc dù cô ta không là NTD sản phẩm đó). Theo pháp luật Việt Nam hiện hành, NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. NTD trong quạn niệm của nhiều quốc gia chỉ công nhận cá nhân. Ví dụ như tại Mỹ, NTD được xác định là cá nhân tham gia giao dịch với mục đích chủ yếu vì nhu cầu cá nhân hoặc sinh hoạt hộ gia đình.
Canada cũng đồng quan điểm khi quy định NTD là tự nhiên nhân (cá nhân) nhưng không phải là thương nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho mục đích kinh doanh của mình. Đồng quan điểm, Liên minh châu Âu đưa ra khái niệm NTD trong các văn bản pháp luật về BVQLNTDcủa Liên minh Châu Âu đã được giải thích trong Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm có liên quan (Directive 1999/44/EC of the European Parliament and of the Council of 25 May 1999 on certain aspects of the sale of consumer goods and associated guarantees). Chỉ thị này giải thích “NTD là bất cứ tự nhiên nhân (tức là cá nhân) nào … tham gia vào các hợp đồng điều 7 chỉnh trong Chỉ thị này… vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình.” Các quốc gia thuộc nhóm các nước Đông Nam Á như Thái Lan, Malayxia, Indonexia cũng đồng nhất với quan điểm trên. Trong đó nhấn mạnh điều kiện cần là cá nhân và điều kiện đủ là việc mua sản phẩm, dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh.[20] Tuy nhiên, sẽ là không công bằng nếu không đề cập tới thực tế là cũng có quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới mà trong pháp luật BVQLNTD của họ có quy định NTD bao gồm cả tổ chức.
Trong số này, phải kể đến Ấn Độ và Đài Loan (Trung Quốc). Luật BVQLNTDcủa Ấn Độ năm 1986 có một số quy định như sau (Điều 2(1d) và 2(1m), Điều 2(1d): “NTD là bất cứ người nào mua … hàng hóa… mà không có mục đích để bán lại hoặc vì mục đích thương mại khác.” Điều 2(1m) giải thích chữ “người” (nhân) ở đây được hiểu bao gồm: hãng (doanh nghiệp), cá nhân, hộ gia đình, hợp tác xã, tổ chức xã hội. Mặc dù vậy, có thể khẳng định rằng, xu hướng chung mang tính thông lệ trong pháp luật BVQLNTDở các quốc gia trên thế giới (nhất là các quốc gia phát triển và các quốc gia thuộc khu vực ASEAN) là NTD chỉ nên giới hạn là cá nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ vì mục đích không nhằm mục đích hoạt động kinh doanh, thương mại hoặc hoạt động nghề nghiệp chuyên nghiệp. Việc quan niệm NTD bao gồm cả tổ chức sẽ không phù hợp với thông lệ chung như đã dẫn chứng ở trên.[20] Ngoài ra, việc quy định NTD chỉ là cá nhân sẽ góp phần khu biệt hóa đối tượng được bảo vệ, tập trung nguồn lực vốn có hạn của các quốc gia cho việc bảo vệ nhóm NTD yếu thế nhất, cần được bảo vệ nhất – đó chính là các cá nhân tham gia mua sắm hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh hoạt tiêu dùng cá nhân của bản thân hoặc của gia đình mình.
Quy định theo hướng này cũng góp phần nâng cao ý thức tự bảo vệ của các chủ thể khác có hoạt động mua và sử dụng hàng hóa khi tham gia quan hệ thị trường, đảm bảo tốt hơn nguyên tắc tự do hợp đồng – điều rất cần thiết trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta trong giai đoạn hội nhập mạnh mẽ như hiện nay. Tuy nhiên, ở một số ít quốc gia, trong đó có Việt Nam lại xem NTD không chỉ có cá nhân. Theo đó, hiện nay NTD bao gồm các đối tượng không chỉ là cá nhân 8 tiêu dùng riêng lẻ mà còn là tổ chức (như doanh nghiệp, cơ quan quản lý Nhà nước, hiệp hội ngành nghề, tổ chức xã hội, đoàn thể…) tiến hành mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình hoặc tổ chức đó. Nói cách khác, các đối tượng này thực hiện việc mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích để bán lại hoặc mục đích sinh lời.
Những đối tượng mua hàng hóa, dịch vụ để bán lại hoặc sử dụng làm nguyên liệu phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh được bảo vệ bởi các văn bản quy phạm pháp luật khác như Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại, Luật Cạnh tranh, Bộ luật Hình sự. Như vậy, có thể khẳng định, NTD là những người mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ cuối cùng trong quan hệ mua - bán. NTD là người, tổ chức mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ, là người chịu ảnh hưởng trực tiếp các lợi ích cũng như tác hại nếu có của sản phẩm, dịch vụ. Trong quan hệ mua - bán, lợi ích của người mua có xu hướng bị xâm phạm nhiều hơn lợi ích của người bán.
Do đó, trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các quốc gia đều có những chính sách để bảo vệ lợi ích của NTD. Hoạt động này được gọi là bảo vệ NTD. BVQLNTDlà hoạt động của cơ quan nhà nước và các tổ chức, hội dân sự và bản thân của NTD căn cứ vào pháp luật thực hiện các biện pháp phòng ngừa, ngăn cản hoặc đấu tranh để bảo vệ các quyền lợi mà NTD bị bên cung cấp xâm hại. Sự cần thiết bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong lĩnh vực vệ sinh an toàn thực phẩm BVQLNTD là hoạt động phổ biến và mang tính tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giới.
Sự cần thiết của việc BVQLNTD xuất phát từ một số lý do sau: Thứ nhất, NTD là người chịu tác động trực tiếp của sản phẩm tiêu dùng. NTD được xác định là người sử dụng các sản phẩm và dịch vụ cuối cùng, do đó họ là người chịu tác động trực tiếp từ các sản phẩm hay dịch vụ mà họ sử dụng hay thụ hưởng. Các tác động đó bao gồm cả tác động tích cực và tác động tiêu cực. Tác động tích cực là các giá trị sử dụng mà NTD có được khi bỏ tiền ra để mua sản phẩm hoặc dịch vụ.
Đó là giá trị cốt lõi mà NTD mong muốn có được. Tuy nhiên, bên cạnh đó, các sản phẩm, dịch vụ cũng bao hàm cả những tác động tiêu cực. Các tác động tiêu cực có thể là một dạng tác động ngoài mong muốn nhưng đã lường 9 trước của sản phẩm, ví dụ như tác dụng phụ của thuốc, cũng có thể là những tác động tiêu cực xuất phát từ lỗi của sản phẩm. Lỗi của sản phẩm có thể xuất phát từ việc kiểm tra sản phẩm thiếu cẩn trọng hoặc sản phẩm bị biến chất do các tác động ngoại vi hoặc lỗi này do sự cẩu thả trong sản xuất, kinh doanh của người sản xuất và cung cấp sản phẩm, dịch vụ.
Dù nguyên nhân do đâu và sự tác động tiêu cực có tính khách quan hay chủ quan, hậu quả của nó đều do NTD gánh chịu. Đặc biệt những tác động tiêu cực do sự cẩu thả của người sản xuất, kinh doanh sẽ tác động rất xấu đến sức khỏe, thậm chí là tính mạng của NTD, ví dụ như các thực phẩm có chứa độc tố do người sản xuất cố tình sử dụng trong sản xuất nhằm gia tăng một đặc tính nào đó của sản phẩm. Chính điều này đã đặt nội dung BVQLNTD lên sự tất yếu, thay vì bảo vệ quyền lợi người sản xuất. Thứ hai, quyền lợi của NTD luôn có nguy cơ bị xâm hại và khó để yêu cầu bồi hoàn.
Trong quan hệ giữa người sản xuất, kinh doanh với NTD là quan hệ mua - bán. Người sản xuất hoặc kinh doanh giao sản phẩm, dịch vụ cho NTD sau khi nhận đủ đơn vị tiền tệ tương ứng với giá cả của sản phẩm, dịch vụ. Lúc này, cơ bản giao dịch đã được hoàn tất. Mặc dù có chính sách bảo hành, hậu mãi sản phẩm, dịch vụ song với vai trò là cá nhân đơn lẻ, giao dịch đã được hoàn tất, rất khó để NTD yêu cầu bên sản xuất, kinh doanh bồi hoàn các lợi ích hay thực hiện việc đổi trả nếu sản phẩm, dịch vụ không tương xứng với giá cả hoặc sản phẩm lỗi gây ra những tiêu cực.
Thực trạng này cơ bản xuất phát từ hai nguyên nhân chính: thứ nhất, NTD đa số là các cá nhân đơn lẻ, tiếng nói của họ thấp và quan trọng hơn là giá trị tiêu dùng cá nhân nhỏ, NTD thường sẽ không sẵn sàng lựa chọn các hình thức đòi quyền lợi tốn kém về mặt tiền bạc, thời gian như khởi kiện, gây sức ép bằng truyền thông… do đó rất nhiều trường hợp NTD cá nhân sẽ chọn cách bỏ qua; thứ hai, những người sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ đều có những quy định nhằm hạn chế khả năng yêu cầu hoàn trả hay bồi hoàn của NTD như: chính sách không đổi trả, xác định tình trạng ngoại hình của sản phẩm để từ chối bảo hành, từ chối hậu mãi khi di chuyển ra khỏi khu vực xác định… Chính hai nguyên nhân này mà nếu không có cơ chế pháp lý và hoạt động của những cơ quan, tổ chức chức năng thực hiện hoạt động BVQLNTD thì lợi ích của NTD trong xã hội sẽ bị bỏ ngõ. 10 Thứ ba, BVQLNTD trong nền kinh tế thị trường là một hoạt động tất yếu.