Lời mở đầu, Phần kết luận và Phần mục lục, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1:Một số vấn đề lý luận về pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh và thực tiễn áp dụng ở Việt Nam Chƣơng 3: Một số giải pháp nhằm tăng cường hiệu lực thi hành pháp luật chống cạnh tranh không lành mạnh ở Việt Nam z 6 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT CHỐNG CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH 1. KHÁI QUÁT VỀ CẠNH TRANH 1. Khái niệm cạnh tranh Khi kinh tế thị trường là mục tiêu phát triển kinh tế của hầu hết các quốc gia trên thế giới thì song song với nó khái niệm cạnh tranh cũng ngày càng trở nên quen thuộc hơn. Lịch sử ra đời và tồn tại của cạnh tranh gắn liền với lịch sử ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hóa mà đỉnh cao là nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh là một trong những quy luật vận động của nền kinh tế thị trường, nếu không có cạnh tranh thì sẽ không có nền kinh tế thị trường theo đúng nghĩa của nó. Là hiện tượng kinh tế chỉ xuất hiện trong điều kiện kinh tế thị trường, cạnh tranh vừa là môi trường, vừa là động lực nội tại thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Là một đặc trưng của kinh tế thị trường, cạnh tranh cũng xuất hiện trong nhiều lĩnh vực khác nhau của xã hội. Do đó, khái niệm cạnh tranh cũng được đề cập ở nhiều góc độ khác nhau và là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như luật học, kinh tế học, triết học.
Dưới góc độ pháp lý, cạnh tranh được sự quan tâm nghiên cứu ở nhiều quốc gia và do vậy, cũng có nhiều khái niệm khác nhau xung quanh vấn đề này. z 7 Theo từ điển Cornu của Pháp thì cạnh tranh được hiểu là:“ Chạy đua trong kinh tế, hành vi của các doanh nghiệp độc lập với nhau và là đối thủ của nhau cung ứng hàng hóa, dịch vụ, nhằm làm thỏa mãn nhu cầu giống nhau với sự may rủi của mỗi bên, thể hiện qua việc lôi kéo được hoặc để mất đi một lượng khách hàng thường xuyên”. “Chạy đua trên một thị trường mà cấu trúc và sự vận hành của thị trường đó đáp ứng các điều kiện của quy luật cung cầu giữa một bên là các nhà cung cấp với bên kia là những người sử dụng hoặc tiêu dùng hàng hóa hoặc dịch vụ; các hàng hóa và dịch vụ này được tự do tiếp cận trong điều kiện các quyết định kinh doanh không phải là hệ quả của áp lực hoặc những ưu đãi do pháp luật mang lại” [32, tr. Như vậy, có thể thấy các yếu tố cấu thành cạnh tranh theo Luật cạnh tranh của Pháp bao gồm: khách hàng thường xuyên (đây là đối tượng và cũng là mục tiêu mà tất cả các bên tham gia cạnh tranh đều hướng tới thu hút); các bên tham gia cạnh tranh (chủ yếu là các doanh nghiệp); môi trường chính trị, pháp lý tạo thuận lợi cho cạnh tranh (đó chính là nền kinh tế thị trường.
Cạnh tranh chỉ có thể diễn ra trong môi trường tự do kinh doanh); thị trường liên quan (được xác định thông qua thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan). Theo từ điển kinh doanh của Vương quốc Anh, xuất bản năm 1992, cạnh tranh trong cơ chế thị trường được định nghĩa như sau: ”Cạnh tranh là sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm tranh giành cùng một tài nguyên sản xuất hoặc cùng một loại khách hàng về phía mình” [45,tr. Điều 4 Luật Thương mại lành mạnh Đài Loan đưa ra định nghĩa cạnh tranh:”Thuật ngữ cạnh tranh được dùng để chỉ những hành động theo đó hai hay nhiều doanh nghiệp đưa ra thị trường mức giá, số lượng, chất lượng, dịch vụ ưu đãi hơn hoặc những điều kiện khác nhằm giành cơ hội kinh doanh”. z 8 Theo quyển Từ điển Tiếng Việt - Bách khoa tri thức phổ thông giải thích cạnh tranh theo nghĩa kinh tế, triết học là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ và thị trường có lợi nhất.
Qua xem xét một số định nghĩa cạnh tranh như trên, có thể thấy mặc dù được nghiên cứu, đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, định nghĩa có thể là khái quát hay cụ thể đi nữa thì các định nghĩa này cũng đều thể hiện được những đặc trưng riêng của cạnh tranh: là sự ganh đua, tranh giành quyền lợi, ảnh hưởng; chủ thể là các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh trong cùng một thị trường liên quan; các chủ thể cạnh tranh đều có chung một mục đích sinh lời. Như vậy, dưới góc độ pháp lý theo nghĩa chung nhất, cạnh tranh có thể được hiểu là quá trình mà các chủ thể tìm mọi biện pháp để vượt lên so với các đối thủ về một lĩnh vực nhất định [48, tr. Mức độ biểu hiện của cạnh tranh: Nói đến cạnh tranh, người ta thường nghĩ ngay đến sự ganh đua thuần túy giữa các nhà kinh doanh trên thương trường. Tuy nhiên, cạnh tranh lại được xem xét dưới nhiều khía cạnh khác nhau.
Nó được xem xét dưới các khía cạnh như: cạnh tranh tự do, cạnh tranh có điều tiết; cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh mang tính độc quyền; cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Căn cứ vào tính chất và mức độ can thiệp của Nhà nước vào đời sống kinh tế, người ta phân chia cạnh tranh thành: cạnh tranh tự do và cạnh tranh có điều tiết. Cạnh tranh tự do: cạnh tranh tự do đã từng là quy luật đặc thù của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa trên cơ sở đề cao vai trò của sở hữu tư nhân vào thế kỷ XIX - XX. Đó là một nền kinh tế có sự tự do cạnh tranh lớn, rất ít sự can thiệp của Nhà nước, chi phối của các thế lực trên thị trường.
Bên cạnh những ưu điểm, cạnh tranh tự do đôi khi được xem là một trong những nhược z 9 điểm của nền kinh tế thị trường. Nó có thể mang lại hậu quả rất sâu sắc cho nền kinh tế và cho xã hội như phân hóa giàu nghèo, phá sản hàng loạt, thất nghiệp… Cạnh tranh có điều tiết: Nhược điểm của cạnh tranh tự do đã mang lại những hậu quả tiêu cực, do vậy sự can thiệp, điều tiết hoạt động cạnh tranh của Nhà nước là mang tính tất yếu trong điều kiện Nhà nước thực hiện chức năng quản lý, điều tiết nền kinh tế. Sự can thiệp, điều tiết của Nhà nước đối với hoạt động cạnh tranh trên thị trường được thực hiện thông qua pháp luật và các công cụ quản lý vĩ mô khác của Nhà nước. Tuy nhiên, sự can thiệp của Nhà nước không làm thủ tiêu hoàn toàn cạnh tranh mà sự can thiệp này là cần thiết nhằm đáp ứng những nhu cầu về mặt xã hội được đánh giá là thiết yếu.
Căn cứ vào mục đích, tính chất của các phương thức thực hiện hành vi cạnh tranh, người ta phân cạnh tranh thành: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh. Cạnh tranh lành mạnh: là các hành vi cạnh tranh hợp pháp, trung thực, tuân thủ đạo đức và tập quán kinh doanh, cạnh tranh bằng chính nội lực, tiềm lực thực có của người kinh doanh mà không xâm phạm đến quyền lợi của người khác. Cạnh tranh lành mạnh được khuyến khích và được pháp luật bảo vệ vì nó đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, thúc đẩy tiến bộ khoa học công nghệ, phát triển nền kinh tế. Cạnh tranh không lành mạnh: là việc sử dụng những biện pháp không chính đáng để giành giật khách hàng, cơ hội kinh doanh làm thiệt hại đến đối thủ, đến người tiêu dùng và xã hội.
Cạnh tranh không lành mạnh bị pháp luật cạnh tranh nghiêm cấm vì nó vi phạm pháp luật, trái với tập quán thương mại, đạo đức kinh doanh, xâm phạm tới quyền lợi của các chủ thể khác và đi ngược lại lợi ích chung của xã hội. Căn cứ vào cơ cấu doanh nghiệp và mức độ tập trung của thị trường, của một ngành, một lĩnh vực kinh tế, người ta phân cạnh tranh thành ba mức độ khác nhau: cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn hảo, độc quyền. Cạnh tranh hoàn hảo: còn được gọi là cạnh tranh thuần túy. Là tình trạng cạnh tranh trong đó giá cả của một hàng hóa là không đổi trên thị trường.
Người mua và người bán có sự hiểu biết tường tận về các điều kiện của thị trường. Trong thị trường có sự luân chuyển các yếu tố sản xuất từ ngành này sang ngành khác. Trong cạnh tranh hoàn hảo, giá cả được định đoạt một cách duy nhất thông qua quan hệ cung cầu. Cạnh tranh hoàn hảo bảo đảm được sự ganh đua của các nhà sản xuất và bảo vệ được quyền lợi của người tiêu dùng.
Tuy nhiên, hình thái thị trường hoàn hảo chỉ có trên lý thuyết, còn trên thực tế thì chỉ tồn tại hình thái thị trường cạnh tranh không hoàn hảo. Cạnh tranh không hoàn hảo: đây là hình thức cạnh tranh chiếm ưu thế trong các ngành sản xuất mà ở đó các chủ thể kinh doanh có quyền lực thị trường tương đối lớn để có thể kiểm soát giá cả sản phẩm đầu ra hoặc đầu vào của họ. Cạnh tranh không hoàn hảo gây ra những hiệu ứng không tốt đến nền kinh tế, biểu hiện ở mức giá tăng cao và sản lượng giảm dần so với nhu cầu của xã hội. Trong điều kiện chi phí giảm dần của các nhà cạnh tranh không hoàn hảo, sản phẩm được sản xuất ra sẽ có giá thành thấp, điều đó làm cho sự tồn tại của các doanh nghiệp nhỏ không được bảo đảm.
Vì vậy, thực tế thì trên thị trường cạnh tranh không hoàn hảo chỉ có một số ít các chủ thể kinh doanh cạnh tranh với nhau. Trong cạnh tranh không hoàn hảo có hai loại: Cạnh tranh mang tính độc quyền và độc quyền nhóm. Cạnh tranh mang tính độc quyền: là hình thức cạnh tranh mà ở đó những người bán có thể ảnh hưởng đến những người mua bằng sự khác nhau của sản phẩm mà mình sản xuất ra về hình dáng, kích thước, chất lượng, nhãn mác… z 11 Trong một số trường hợp người bán có thể buộc người mua chấp nhận giá sản phẩm do họ đưa ra. Trong hình thức cạnh tranh này, các nhà kinh doanh luôn tạo cho sản phẩm của mình sự khác nhau về chất lượng, kiểu dáng… nhằm làm cho sản phẩm của họ có điểm khác biệt so với các sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh.