đặt vấn đề cho giới luật học về hướng nghiên cứu mới dưới góc độ luật so sánh. Sau đó tác giả đã công bố bài viết của mình với tiêu đề “ĐKTMC và nguyên tắc tự do khế ước” trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 6 năm 2003 [14] và tiếp theo là trong cuốn sách chuyên khảo “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng Việt Nam hiện nay’- NXB Công an nhân dân 2003 [15]. Có thể khẳng định PGS.TS Nguyễn Như Phát là người đầu tiên gợi mở về việc nghiên cứu đối với pháp luật về ĐKTMC cho giới nghiên cứu ở Việt Nam. Trong bài viết của mình, lần đầu tiên PGS.TS Nguyễn Như Phát đã nêu ra các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc sử dụng ĐKTMC trong giao dịch hợp đồng, đó là: i/khái niệm, nguồn gốc và mục tiêu của ĐKTMC; ii/bảo vệ khách hàng trước những điều kiện thương mại chung trái pháp luật và iii/pháp luật về ĐKTMC- cách giải quyết ở một số quốc gia.
Với công trình nghiên cứu của mình, mặc dù mới chỉ khái quát những vấn đề cơ bản, PGS.TS Nguyễn Như Phát đã có những kết luận khoa học quan trọng, theo đó tác giả kiến nghị cần nghiên cứu để có sự điều chỉnh của pháp luật riêng về ĐKTMC nhằm mục đích: 11 Xác định yêu cầu và điều kiện công nhận sự hợp pháp của các ĐKTMC; xác định thẩm quyền và thủ tục giám sát tính hợp pháp của các ĐKTMC; quy định khả năng tố tụng và hậu quả pháp lý của những hành vi liên quan đến việc ban hành và áp dụng ĐKTMC [16, tr. Tác giả cũng đã gợi mở hướng nghiên cứu sâu và toàn diện hơn các vấn đề nói trên. Tuy nhiên dường như giới khoa học pháp lý Việt Nam không mấy mặn mà với chủ đề này. Năm 2008, tác giả Lê Thanh Hà với đề tài luận án thạc sỹ kinh tế “Điều kiện giao dịch chung trong hoạt động kinh doanh quốc tế và khả năng áp dụng tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu đáng kể.
Công trình này đã có những đóng góp đáng ghi nhận trong việc nghiên cứu về điều kiện giao dịch chung trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế như: i/Làm rõ những vấn đề cơ bản về điều kiện giao dịch chung nói chung trong và trong kinh doanh quốc tế nói riêng, bao gồm cả việc làm rõ những ưu điểm và bất lợi trong việc sử dụng điều kiện giao dịch chung trong quá trình soạn thảo hợp đồng kinh doanh quốc tế; ii/ Phân tích thực tiễn sử dụng điều kiện giao dịch chung tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cũng như kinh nghiệm quốc tế trong việc sử dụng điều kiện giao dịch chung; iii/ Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc sử dụng điều kiện giao dịch chung cho các doanh nghiệp Việt Nam. Các giải pháp của tác giả hướng đến việc tăng cường việc sử dụng điều kiện giao dịch chung trong kinh doanh quốc tế tại Việt Nam xoay quanh các giải pháp cụ thể để nâng cao nghiệp vụ giao dịch kinh doanh quốc tế của doanh nghiệp và khắc phục những hạn chế của điều kiện giao dịch chung. Đây là luận án của trường đại học kinh tế nên tác giả không có nhiều đề xuất về xây dựng pháp luật. Tuy nhiên, tác giả đã có những kết luận ở góc độ kinh tế để NCS tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn căn nguyên của việc điều chỉnh pháp luật đối với ĐKTMC, đặc biệt là kết luận “Điều kiện giao dịch chung thường bị lạm dụng để thực hiện những mục đích che đậy thông tin nhằm đạt được lợi thế trên thị trường.
Bên được ra điều kiện 12 giao dịch chung bao giờ cũng là bên đã có sự tìm hiểu kỹ lưỡng đối với lĩnh vực mà mình kinh doanh bao gồm cả những quy định của luật pháp có liên quan. Việc lựa chọn điều khoản nào để được vào điều kiện giao dịch chung đã được tính toán lường trước những biến động của thị trường có thể ảnh hưởng tới các khâu của thương vụ. Bên được đề nghị chấp nhận điều kiện giao dịch chung lúc này sẽ rơi vào thế bị động và ít thông tin hơn do không trực tiếp khảo sát thị trường và soạn thảo điều khoản, do đó, rất dễ gặp tổn thất lớn nếu rủi ro xảy ra” [9, tr. Năm 2010, tác giả Lò Thị Thuỳ Linh đã lựa chọn nghiên cứu đề tài ở cấp độ thạc sỹ luật học với đề tài “Pháp luật Việt Nam về bảo vệ người tiêu dùng trong các hợp đồng gia nhập”.
Công trình nghiên cứu của Lò Thị Thuỳ Linh đã đưa ra những đề xuất về việc hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền lợi NTD trước các hợp đồng gia nhập và những kết luận này đã được cụ thể hoá một phần trong thực tiễn xây dựng pháp luật về điều kiện giao dịch chung, hợp đồng mẫu trong lĩnh vực tiêu dùng ở Luật BVQLNTD 2011, chẳng hạn như đề xuất của tác giả về việc hoàn thiện khái niệm người tiêu dùng; quy định về trách nhiệm của nhà kinh doanh trong việc công bố thông tin; quy định về thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong việc kiểm tra, xem xét, yêu cầu huỷ bỏ, sửa đổi các điều khoản trong hợp đồng gia nhập. Tuy nhiên, vì chỉ là đề tài thạc sỹ nên các nội dung tác giả đề cập còn hết sức sơ lược, rất nhiều vấn đề lý luận về việc áp dụng ĐKTMC trong giao dịch hợp đồng chưa được tác giả giải quyết. Hơn nữa, ĐKTMC không chỉ là vấn đề của pháp luật về bảo vệ quyền lợi NTD nên công trình nghiên cứu của Lò Thị Thuỳ Linh còn phiến diện. Cho đến khi Luật BVQLNTD 2011 ra đời, việc nghiên cứu về ĐKTMC lại được tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh (Đại học Ngoại thương) lựa chọn ở góc độ khác, đó là đề tài thạc sỹ “Pháp luật về hợp đồng dân sự theo mẫu trên thế giới- Những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam”.
Công trình này đã có những kết quả nghiên cứu có giá trị trong việc gợi mở những nhận diện liên quan đến 13 hợp đồng mẫu, cung cấp một số thông tin về chế định hợp đồng mẫu theo quy định của một số quốc gia như Đức, Pháp, Hàn Quốc, Đài Loan và đề xuất các bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Tuy nhiên việc đề cập của tác giả dưới góc độ của chuyên ngành luật quốc tế nên chủ yếu tác giả khai thác đề tài ở góc độ luật so sánh mang tính chất cung cấp thông tin về pháp luật của một số quốc gia từ đó gợi mở một số kinh nghiệm cho Việt Nam trong lĩnh vực bảo vệ NTD trước các hợp đồng mẫu. Cụ thể tác giả đã đưa ra được những bài học kinh nghiệm đáng lưu ý sau cho việc hoàn thiện pháp luật về hợp đồng mẫu của Việt Nam: i/Thứ nhất, cần phải hoàn thiện lại chế định hợp đồng theo mẫu trong Bộ luật Dân sự để tạo sự thống nhất với hệ thống pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng; ii/ Thứ hai, pháp luật không nên giới hạn các doanh nghiệp phải đăng ký hợp đồng theo mẫu; iii/ Thứ ba, pháp luật cần có những quy định để tăng cường vai trò của các hội bảo vệ người tiêu dùng trong việc phát hiện và đề nghị cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tuyên bố vô hiệu và/hoặc sửa đổi, bổ sung hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung của các doanh nghiệp; Thứ tư, pháp luật cần dự liệu về một số nội dung bắt buộc với các hợp đồng theo mẫu/các điều kiện giao dịch chung; Thứ năm, pháp luật tố tụng dân sự cần nhanh chóng hoàn thiện chế định thủ tục giải quyết vụ án đơn giản để làm cơ sở cho người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi của mình. Tuy nhiên, cũng tương tự các công trình nghiên cứu ở cấp độ luận án thạc sỹ, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Anh cũng mới chỉ đề cập nghiên cứu sơ lược, trên cơ sở tổng hợp pháp luật so sánh để đưa ra các đề xuất hoàn thiện pháp luật mà chưa có sự phân tích, đánh giá toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về ĐKTMC từ đó kiến nghị các vấn đề xây dựng pháp luật về ĐKTMC với các luận chứng thuyết phục.
Nhìn vào số lượng các công trình nghiên cứu nêu trên có thể thấy rằng các kết quả nghiên cứu về pháp luật về ĐKTMC ở trong nước còn rất khiêm tốn. Trong số các công trình nghiên cứu nổi bật trên đây, chỉ có các bài viết của PGS.TS Nguyễn Như Phát là đề cập trực diện nhất, tổng thể nhất các vấn đề của pháp luật về ĐKTMC nhưng chỉ mới là những gợi mở ban đầu về các nội dung 14 cần nghiên cứu mà chưa có những kết luận cụ thể. Với thạc sỹ Lê Thanh Hà, tác giả chỉ đề cập đến các khía cạnh của việc đề xuất các giải pháp cho doanh nghiệp trong việc áp dụng các ĐKTMC trong lĩnh vực kinh doanh quốc tế; thạc sỹ Lò Thị Thuỳ Linh lựa chọn việc đưa ra một số giải pháp nhằm bảo vệ quyền lợi NTD trong các hợp đồng gia nhập, còn thạc sỹ Nguyễn Thị Ngọc Anh nghiên cứu về hợp đồng mẫu ở góc độ luật so sánh và nêu lên những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam. Như vậy, đánh giá chung về tình hình nghiên cứu đề tài ở trong nước, có thể nhận thấy những đặc điểm nổi bật sau: i/Chưa có một công trình nghiên cứu nào ở cấp luận án thạc sỹ, tiến sỹ luật học về những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về ĐKTMC được công bố; ii/Chưa có bất kỳ cuốn sách chuyên khảo nào về đề tài này được xuất bản; iii/Chưa có một đề tài nghiên cứu khoa học toàn diện nào về ĐKTMC được triển khai nghiên cứu.
Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài Trong khi giới nghiên cứu khoa học ở Việt Nam không mặn mà với việc nghiên cứu về lĩnh vực này thì ở nước ngoài có nhiều các công trình, bài viết nghiên cứu khác nhau liên quan đến ĐKTMC và hợp đồng mẫu dưới nhiều giác độ. Đây là vấn đề được đặc biệt quan tâm ở những nước phát triển, đặc biệt là khối Liên minh Châu Âu vì vậy phần lớn các công trình nghiên cứu là của các học giả Châu Âu.