phần mở đầu của luận văn, tác giả trình bày tổng quan, giới thiệu bài toán, ý nghĩa của bài toán và các vấn đề cần giải quyết. Ngoài ra, tác giả trình bày bốn phạm vi ứng dụng thực tiễn tiềm năng của bài toán và cấu trúc luận văn. Các chƣơng tiếp theo, tác giả trình bày chi tiết về một số mô hình học máy áp dụng, nền tảng phƣơng pháp luận và kết quả thực nghiệm của tác giả trên bộ dữ liệu thực tế cùng với các đề xuất phát triển kết quả nghiên cứu trong tƣơng lai. 13 CHƢƠNG 1 – TỔNG QUAN VỀ TRÍCH CHỌN QUAN HỆ THỰC THỂ 1.
Quy trình khai phá dữ liệu Khai phá dữ liệu (Data mining) và phát hiện tri thức từ dữ liệu (Knowledge Discovery from data) là một lĩnh vực phát triển bùng nổ trong những năm trở lại đây nhờ những bƣớc đột phá của công nghệ học máy và học sâu. Với sự phát triển của Internet, con ngƣời ngày càng có nhiều dữ liệu hơn. Các dữ liệu cũng đang dạng hơn và dễ tiếp cận hơn. Tận dụng nguồn dữ liệu to lớn từ Internet, thông tin đã đƣợc nhiều tổ chức thu thập để làm sạch, thực hiện nghiên cứu, khai phá.
Từ đó, có thể trích chọn để tạo ra tri thức hữu ích trong nhiều lĩnh vực. Điều này mang đến nhiều cải tiến tích cực trong nhiều lĩnh vực từ phân tích thị trƣờng, phát hiện gian lận, xây dựng đồ thị tri thức và nghiên cứu khoa học. Do tăng trƣởng nhanh chóng về số lƣợng, đa dạng về lĩnh vực, phong phú về nội dung, khối lƣợng dữ liệu cực lớn đã đƣợc thu thập và lƣu giữ trong những kho dữ liệu khổng lồ cũng nhƣ trên Internet đang mang đến nhiều cơ hội cho những tổ chức, cá nhân có thể khai thác đƣợc tài nguyên dữ liệu đó. Chính vì vậy, lợi ích và tiềm năng của khai phá dữ liệu là không thể phủ nhận, việc khai phá dữ liệu và tìm kiếm tri thức đang đƣợc số lƣợng lớn các doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu đặc biệt quan tâm và dành sự đầu tƣ lớn.
Phạm vi ứng dụng không chỉ trong doanh nghiệp, với quy mô quản lý quốc gia về hành chính, khai phá dữ liệu trong văn bản pháp luật và kho tri thức quản lý kinh tế xã hội đặc biệt, việc khai phá dữ liệu trong văn bản pháp luật là nền tảng đầu tiên để Nhà nƣớc xây dựng đồ thị tri thức, cơ sở dữ liệu tri thức thuế và tài chính công. Điều này giúp chính phủ đƣợc ra các chính sách đúng đắn, các văn bản điều hành, văn bản pháp luật có tính thực tiễn, bám sát với những yêu cầu khách quan của kinh tế xã hội Việt Nam, đồng thời cũng giúp rút ngắn thời gian triển khai phổ biến pháp luật và các khoảng cách trong điều hành thực thi giữa các cấp. Trên hết, hệ thống tri thức về văn bản pháp luật giúp toàn bộ ngƣời dân có thể tiếp cận dễ dàng hơn và có thể có đƣợc hiểu biết sâu sắc hơn về luật pháp cũng nhƣng các quyền lợi, trách nhiệm hợp pháp của các tổ chức, cá nhân trong xã hội. Khai phá dữ liệu là quá trình bao gồm một dãy các bƣớc sau: 1.
Làm sạch dữ liệu 14 2. Tích hợp dữ liệu 3. Chọn lựa dữ liệu 4. Chuyển đổi dữ liệu 5.
Khai phá dữ liệu 6. Đánh giá các mẫu 7. Trình diễn tri thức Dữ liệu cần phải làm sạch để khắc phục đối với các trƣờng dữ liệu rỗng, dƣ thừa hoặc dữ liệu không hợp lệ. Giai đoạn làm sạch và tiền xử lý dữ liệu là giai đoạn hay không đƣợc chú ý đúng mức, nhƣng thực tế đây là một bƣớc rất quan trọng trong quá trình khai phá dữ liệu.
Một số lỗi thƣờng mắc phải trong khi gom dữ liệu là dữ liệu không đầy đủ hoặc không thống nhất, thiếu chặt chẽ. Vì vậy, dữ liệu thƣờng chứa các giá trị vô nghĩa và không có khả năng kết nối lại với nhau. Các công việc tiền xử lý dữ liệu bao gồm: Xử lý dữ liệu bị mất/thiếu, khử bỏ trùng lặp, giảm nhiễu, chuẩn hóa, rời rạc hóa, trích rút và xây dựng đặc trƣng mới từ các thuộc tính đã có, giảm chiều không gian thuộc tính. Sau giai đoạn tiền xử lý dữ liệu, bƣớc thứ năm - khai phá dữ liệu là bƣớc quan trọng nhất trong tiến trình phát hiện tri thức.
Kết quả của bƣớc này là trích chọn đƣợc các mẫu và/hoặc mô hình ẩn dƣới một khối lƣợng lớn dữ liệu bằng các kĩ thuật của học máy và học sâu. Có thể nói đây là giai đoạn nhận dạng, phân tích thống kê, sử dụng nhiều phƣơng pháp khác nhau nhƣ phƣơng pháp trực quan hoặc phƣơng pháp mô hình hóa. Ở giai đoạn này nhiều thuật toán khác nhau đã đƣợc sử dụng để chọn các mẫu từ dữ liệu. Thuật toán thƣờng dùng để trích chọn mẫu là thuật toán phân loại dữ liệu, thuật toán mô hình hóa dữ liệu tuần tự hay các thuật toán không giám sát nhƣ LDA, thuật toán không phụ thuộc vào tri thức ngành để tìm kiếm từ khóa nhƣ YAKE.
Tiếp đến là giai đoạn đánh giá các mẫu. Đây là giai đoạn thực hiện kiểm định dựa vào mục tiêu ban đầu của ứng dụng thông qua đánh giá của ngƣời sử dụng cuối hoặc các chuyên gia. Mục đích của giai đoạn này là hiểu rõ bản chất các tri thức đã tìm đƣợc, đặc biệt là làm sáng tỏ các mô tả và dự đoán. 15 Cuối cùng là trình diễn tri thức, bao gồm việc hiển thị kết quả hoặc dịch kết quả để hiểu và trình diễn.
Trong bƣớc này, các tri thức vừa mới khám phá đã đƣợc củng cố, kết hợp lại thành một hệ thống đồng thời gian quyết các xung đột tiềm năng trong các tri thức đó. Các mô hình rút ra đƣợc đƣa vào những hệ thống thông tin thực tế dƣới dạng các mô đun hỗ trợ việc đƣa ra quyết định. Có thể minh họa quá trình khai phá dữ liệu qua hình dƣới đây: Hình 1. Lƣợc đồ quá trình khai phá dữ liệu Công nghệ phát hiện tri thức và khai phá dữ liệu đạt nhiều thành tựu trong nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong nghiên cứu về mã gen ngƣời, giải mã trình từ giúp đạt đƣợc các mục tiêu quan trọng trong việc phân tích, thấu hiểu mối quan hệ chặt chẽ giữa các biến thể thành phần trong chuỗi DNA ngƣời và sự thay đổi trong tính nhạy cảm của bệnh. Điều này giúp tìm ra những thay đổi của chuỗi DNA ở ngƣời ảnh hƣởng đến rủi ro về các bệnh thƣờng gặp nhƣ ung thƣ. Đây là nền tảng quan trọng để phát triển các phƣơng thức chẩn đoán, phòng ngừa và điều trị các loại bệnh này. Trong lĩnh vực kỹ thuật điện, phƣơng pháp khai thác dữ liệu đã đƣợc sử dụng rộng rãi để giám sát tình trạng của thiết bị điện cao áp.
Việc giám sát tình trạng thiết bị thu đƣợc những thông tin có giá trị nhƣ về trạng thái cách điện hệ thống (hoặc các thông số quan trọng khác liên quan đến an toàn). Các kỹ thuật phân cụm dữ liệu - chẳng hạn nhƣ bản đồ tự tổ chức (SOM), đã đƣợc áp dụng để giám sát và phân tích độ rung của các bộ thay đổi nấc điều chỉnh trên tải của máy biến áp (OLTCS). 16 Trong nghiên cứu giáo dục, nơi khai thác dữ liệu đã đƣợc sử dụng để nghiên cứu các yếu tố khiến sinh viên lựa chọn tham gia vào các hành vi làm giảm khả năng học tập của họ, và để hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến việc giữ chân sinh viên đại học. chuyên gia, đặc biệt là trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật.
Bằng cách này, khai thác dữ liệu có thể tạo điều kiện thuận lợi cho bộ nhớ của tổ chức. Khai thác dữ liệu đã đƣợc áp dụng cho các tạo tác phần mềm trong lĩnh vực kỹ thuật phần mềm: Kho phần mềm khai thác. Để nghiên cứu bài toán trích chọn quan hệ, ngƣời nghiên cứu cần phải nắm vững các định nghĩa quan hệ, các đặc trƣng của quan hệ và các loại quan hệ … Vì thế, trong chƣơng này, luận văn giới thiệu các vấn đề liên quan tới bài toán trích chọn mối quan hệ, làm tiền đề cho nghiên cứu bài toán ứng dụng trong văn bản pháp luật. Quan hệ ngữ nghĩa là một khái niệm trong ngôn ngữ học.
Theo Birger Hjorland định nghĩa: Quan hệ ngữ nghĩa là mối quan hệ về mặt ngữ nghĩa giữa hai hay nhiều khái niệm. Trong đó, khái niệm đƣợc biểu diễn dƣới dạng từ hay cụm. Bài toán trích chọn quan hệ Trích rút quan hệ là bài toán có nhiều thành tựu trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên. Bài toán này xử lý hai vấn đề.
Vấn đề một là trích chọn thực thể từ văn bản. Vấn đề hai là xác định mối quan hệ của các thực thể đã đƣợc xác nhận ở bƣớc một. Hai vấn đề trên đều là một bài toán gán nhãn chuỗi từ. Trong học máy, gán nhãn chuỗi từ là bài toán nhận dạng mẫu liên quan đến việc gán nhãn phân loại theo thuật toán học máy có giám sát cho từng chuỗi từ của một chuỗi các câu quan sát.
Với trích chọn thực thể, bài toán xác định các chuỗi từ nhƣ tên ngƣời, tên địa danh, tên tổ chức, thực thể định danh khác nhƣ bộ dữ liệu Conll 2003. Ví dụ, chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ở quảng trƣờng Ba Đình. Mô hình đƣợc huấn luyện để xác định cụm từ ―Hồ Chí Minh‖ là tên ngƣời và ―Ba Đình‖ là tên địa điểm. Một thực thể định danh là một chuỗi các từ chỉ đến một thực thể trong thế giới thực, ví dụ nhƣ ―Đà Nẵng‖, ―Hà Nội‖, ―Võ Nguyên Giáp‖, ―Bộ tài chính‖ và ―thuế tiêu thụ đặc biệt‖.
Một thực thể định danh có thể đƣợc sắp xếp vào một trong các loại nhƣ Ngƣời, Tổ chức, Cơ sở vật chất, Địa điểm … Nhƣ vậy, các thực thể chính là những chủ thể cơ bản nhất trong nội dung văn bản ở nhiều lĩnh vực khác nhau và ở bất cứ ngôn ngữ nào. Sau khi có các thực thể, trích 17 chọn quan hệ thực thể là việc xác định các thực thể đó có quan hệ với nhau hay không. Các quan hệ có thể là mối quan hệ sở hữu của cá nhân với tài sản, quan hệ của cá nhân đại diện cho tổ chức và tổ chức nhƣ quan hệ sáng lập, quan hệ đại diện pháp luật hoặc không có quan hệ giữa các thực thể. Để thực hiện bài toán trên, dữ liệu cần đƣợc thu thập, làm sạch.
Sau đó, với mục tiêu trích xuất, ngƣời nghiên cứu cần đƣa ra các định nghĩa rõ ràng về các loại thực thể của bài toán.