Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khoa học và công nghệ (KH&CN) giữ vai trò then chốt trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao năng suất lao động quốc gia. Tại Việt Nam, chủ trương coi KH&CN là quốc sách hàng đầu đã được khẳng định xuyên suốt qua các kỳ Đại hội Đảng và được hiến định tại Điều 62 Hiến pháp năm 2013. Đặc biệt, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng tiếp tục xác định phát triển KH&CN cùng đổi mới sáng tạo là một trong những đột phá chiến lược nhằm hiện thực hóa mục tiêu đưa nước ta trở thành nước đang phát triển có công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2025, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và trở thành nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Để quản lý và định hướng sự phát triển của lĩnh vực này, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ, chuyển giao công nghệ, sở hữu trí tuệ và ứng dụng tiến bộ khoa học. Mặc dù công tác xây dựng thể chế thời gian qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận, hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN vẫn bộc lộ nhiều hạn chế: tiến độ ban hành văn bản điều chỉnh các vấn đề mới còn chậm, chưa theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng của công nghệ hiện đại; còn xảy ra sai phạm về thẩm quyền ban hành, thể thức và kỹ thuật trình bày; quy trình soạn thảo và ban hành đôi khi chưa đồng bộ.

Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài khóa luận "Ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ" của tác giả Nguyễn Sỹ Tới (Trường Đại học Luật Hà Nội, 2024) tập trung làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác lập quy trong ngành KH&CN.

Mục đích nghiên cứu của đề tài là phân tích có hệ thống các khía cạnh lý luận và pháp lý liên quan đến quá trình ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng lập quy tại các Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND) các địa phương. Để đạt được mục đích này, tác giả xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp lý về VBQPPL và hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN.
  2. Đánh giá thực trạng ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN của các cơ quan có thẩm quyền thông qua số liệu thống kê, báo cáo tổng kết giai đoạn 2015–2023; chỉ rõ các hạn chế tồn tại và nguyên nhân của những hạn chế đó.
  3. Đề xuất các phương hướng và giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN và thực trạng hoạt động này tại các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tại Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ:

  • Về không gian: Quá trình ban hành VBQPPL về lĩnh vực KH&CN trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam.
  • Về nội dung: Nghiên cứu, đánh giá các hoạt động xây dựng, ban hành VBQPPL điều chỉnh lĩnh vực KH&CN.
  • Về thời gian: Khảo sát thực tiễn trong giai đoạn từ năm 2015 đến hết năm 2023 (với một số dữ liệu thống kê cập nhật đến tháng 01/2024).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Cơ sở lý thuyết và pháp lý của khóa luận được xây dựng dựa trên hệ thống các đạo luật, văn bản dưới luật và lý luận lập pháp của Việt Nam. Khung pháp lý chủ đạo bao gồm:

  • Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (Điều 62 về chính sách KH&CN, Điều 88 về thẩm quyền công bố văn bản của Chủ tịch nước).
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) với các quy định trọng tâm về khái niệm VBQPPL (Điều 2), quy phạm pháp luật (Điều 3), nguyên tắc xây dựng pháp luật (Điều 5), thẩm quyền ban hành (Chương II, từ Điều 15 đến Điều 30), các giai đoạn quy trình (các Điều 32, 33, 57, 74, 84, 96, 97, 101, 104, 111) và nguồn lực bảo đảm (Điều 171).
  • Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000 và Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013.
  • Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017, Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung năm 2022), Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008, Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012 (sửa đổi, bổ sung năm 2020).
  • Nghị định số 34/2016/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; Nghị định số 28/2023/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ.

Về mặt lý luận, tác giả tiếp cận khái niệm ban hành VBQPPL theo nghĩa rộng: là chuỗi hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, từ khâu lập đề nghị xây dựng, soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra cho đến thông qua, ký ban hành và công bố văn bản. Đồng thời, tác giả xác định VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN là hệ thống quy tắc xử sự chung điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong nghiên cứu cơ bản, nghiên cứu ứng dụng, chuyển giao công nghệ, thương mại hóa kết quả nghiên cứu và bảo đảm an toàn, đạo đức khoa học.

Phương pháp luận của khóa luận dựa trên chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử Mác - Lênin, gắn kết với tư tưởng Hồ Chí Minh về khoa học kỹ thuật và đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Dùng để làm rõ các khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc lập quy và đánh giá các quy định pháp luật thực định.
  • Phương pháp so sánh và so sánh luật: Được áp dụng để đối chiếu các quy định pháp luật qua từng thời kỳ (Luật KH&CN năm 2000 so với Luật KH&CN năm 2013), phân định thẩm quyền giữa các chủ thể ban hành.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp số liệu văn bản được ban hành bởi Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ KH&CN và chính quyền địa phương cấp tỉnh.

Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm:

  • Báo cáo kết quả hệ thống hóa VBQPPL thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Khoa học và Công nghệ thời kỳ 2019–2023 ban hành kèm theo Quyết định số 105/QĐ-BKHCN.
  • Dữ liệu lưu trữ và thống kê từ Cổng thông tin điện tử Chính phủ, Cổng thông tin điện tử Bộ Khoa học và Công nghệ, cơ sở dữ liệu Thư viện Pháp luật.
  • Các ấn phẩm khoa học, giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật, cùng các luận văn thạc sĩ luật học có liên quan đến công tác thẩm định, lấy ý kiến nhân dân và đánh giá tác động văn bản.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận toàn diện về hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN. Tác giả định nghĩa VBQPPL trong lĩnh vực này là văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức luật định, chứa đựng các quy tắc xử sự bắt buộc chung nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động nghiên cứu, phát triển công nghệ và ứng dụng kiến thức khoa học. Văn bản có 4 đặc điểm cốt lõi: chứa đựng quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung và phi cá nhân; do chủ thể có thẩm quyền ban hành; tuân thủ chặt chẽ hình thức và trình tự luật định; được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng các biện pháp thuyết phục, kinh tế, hành chính hoặc cưỡng chế.

Chương này phân tích hệ thống thẩm quyền ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN từ trung ương đến địa phương (Quốc hội, UBTVQH, Chủ tịch nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ KH&CN và thủ trưởng cơ quan ngang bộ, HĐND và UBND cấp tỉnh). Hoạt động lập quy trong lĩnh vực này phải tuân thủ nghiêm ngặt 6 nhóm nguyên tắc pháp lý:

  • Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm tính hợp hiến và thứ bậc hiệu lực pháp lý.
  • Tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục luật định.
  • Bảo đảm dân chủ, công khai và minh bạch thông qua hoạt động lấy ý kiến nhân dân, đối tượng chịu tác động.
  • Bảo đảm tính hệ thống, tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, cải cách thủ tục hành chính và lồng ghép bình đẳng giới.
  • Bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
  • Tôn trọng quy luật khách quan, bảo đảm tính khoa học và tính kịp thời.

Tác giả chuẩn hóa quy trình ban hành VBQPPL lĩnh vực KH&CN qua 5 bước bắt buộc:

  1. Lập đề nghị xây dựng VBQPPL.
  2. Soạn thảo VBQPPL.
  3. Thẩm định (do Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp, tổ chức pháp chế thực hiện) và thẩm tra (do Hội đồng Dân tộc, các Ủy ban của Quốc hội, các Ban của HĐND thực hiện).
  4. Xem xét, thông qua dự thảo văn bản.
  5. Ban hành và công bố văn bản (bằng các hình thức đăng Công báo, đưa tin trên phương tiện truyền thông, niêm yết công khai).

Cuối chương, tác giả chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN gồm: yếu tố chính trị; kinh tế - xã hội; yếu tố pháp lý (chu kỳ rà soát, đánh giá 3 năm hoặc 5 năm); dư luận xã hội; cùng các điều kiện bảo đảm về nguồn nhân lực, cơ sở vật chất - kỹ thuật và nguồn kinh phí theo Điều 171 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015.

Chương 2: Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Chương 2 tập trung phân tích thực tiễn lập quy từ năm 2015 đến đầu năm 2024 dựa trên các báo cáo tổng kết và kết quả hệ thống hóa VBQPPL. Tác giả nhấn mạnh sự chuyển đổi từ Luật KH&CN năm 2000 sang Luật KH&CN năm 2013 nhằm khắc phục các quy định chung chung, tạo hành lang pháp lý cho hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia và doanh nghiệp khởi nghiệp.

Về số lượng văn bản được ban hành, hệ thống thể chế KH&CN liên tục được bổ sung. Dữ liệu hệ thống hóa giai đoạn 2015–2024 ghi nhận cơ cấu văn bản phong phú ở cả cấp trung ương và cấp địa phương:

Cơ quan ban hành Hình thức văn bản quy phạm pháp luật Số lượng văn bản ghi nhận (2015–2024) Lĩnh vực/Nội dung điều chỉnh chính
Quốc hội Luật 02 Luật Chuyển giao công nghệ 2017; Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi 2022
UBTVQH Nghị quyết 09 Cơ chế, chính sách liên quan đến KH&CN
Chính phủ Nghị định 27 Quản lý KH&CN (11); Công nghệ cao và chuyển giao công nghệ (4); Năng lượng nguyên tử (2); Sở hữu trí tuệ (1)...
Thủ tướng Chính phủ Quyết định 16 Quản lý công nghệ cao, chuyển giao công nghệ (8); Quản lý KH&CN (5); Tiêu chuẩn đo lường chất lượng (2); Sở hữu trí tuệ (1)
Bộ KH&CN và các Bộ liên quan Thông tư, Thông tư liên tịch 155 Hướng dẫn chuyên môn, quản lý nhiệm vụ KH&CN, tiêu chuẩn, đo lường, sở hữu công nghiệp
HĐND cấp tỉnh Nghị quyết 115 Cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển KH&CN địa phương
UBND cấp tỉnh Quyết định Khoảng 2.030 Triển khai quản lý hoạt động KH&CN, định mức kinh phí tại địa phương

Trung bình mỗi năm có khoảng 30 VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN được ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung. Phân tích diễn biến giai đoạn 2015–2023 cho thấy số lượng Nghị định đạt mức cao trong giai đoạn 2015–2017 rồi giảm dần và duy trì ổn định từ 1 đến 3 nghị định mỗi năm trong giai đoạn 2020–2023. Trong khi đó, Thông tư của Bộ KH&CN và Nghị quyết của HĐND cấp tỉnh chiếm tỷ trọng lớn nhất và có xu hướng tăng đều qua các năm.

Về mặt chất lượng, các văn bản cơ bản bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và tương thích với các điều ước quốc tế. Tác giả nêu ví dụ thực tiễn về Thông tư số 19/2023/TT-BKHCN do Bộ trưởng Bộ KH&CN ban hành hướng dẫn Nghị định số 107/2013/NĐ-CP và Nghị định số 126/2021/NĐ-CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực năng lượng nguyên tử; văn bản này đã viện dẫn đầy đủ, chính xác các căn cứ pháp lý cấp trên gồm Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008, Luật Xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 28/2023/NĐ-CP.

Về tính khả thi, tác giả đối chiếu việc hoàn thiện thể chế KH&CN với các chỉ tiêu kinh tế - xã hội, cụ thể là tốc độ tăng năng suất lao động (NSLĐ): năm 2015 đạt 4,53%; bình quân giai đoạn 2016–2020 đạt 6,05% (năm 2019 đạt cao nhất 6,62%; năm 2020 đạt gần 5%); năm 2021 đạt 4,6%; năm 2022 đạt 4,7%. Mục tiêu giai đoạn 2021–2030 đặt ra mức tăng NSLĐ bình quân trên 6,5%/năm, đòi hỏi khung pháp lý KH&CN phải thực sự khả thi và giải phóng được năng lực sản xuất.

Về quy trình, các khâu lập đề nghị, soạn thảo và lấy ý kiến ngày càng mở rộng hình thức dân chủ (hội nghị, hội thảo, đăng tải cổng thông tin điện tử). Tuy nhiên, chương này cũng chỉ ra các tồn tại: một số quy định còn chậm được ban hành trước sự xuất hiện của các công nghệ mới; thủ tục hành chính trong nghiên cứu còn rườm rà, chưa thực sự phù hợp với đặc thù chấp nhận rủi ro trong lao động sáng tạo khoa học; chính sách thu hút chuyên gia kiều bào và nhà khoa học nước ngoài vẫn gặp vướng mắc về thủ tục triển khai.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ

Dựa trên việc nhận diện những tồn tại và nguyên nhân ở Chương 2, Chương 3 định hình 3 nhóm giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao chất lượng lập quy ngành KH&CN:

  • Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Tập trung nghiên cứu sửa đổi, bổ sung Luật KH&CN năm 2013 và các luật chuyên ngành liên quan; xây dựng khung pháp lý kịp thời điều chỉnh các vấn đề công nghệ mới phát sinh; xóa bỏ các quy định chồng chéo, mâu thuẫn; đơn giản hóa và cắt giảm thủ tục hành chính không cần thiết; hoàn thiện cơ chế tài chính và quản lý nhiệm vụ khoa học phù hợp với thông lệ quốc tế và đặc thù chấp nhận rủi ro khoa học.
  • Giải pháp về tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực: Kiện toàn tổ chức pháp chế tại Bộ KH&CN và các cơ quan chuyên môn; đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu kỹ năng lập pháp, kỹ thuật soạn thảo văn bản cho đội ngũ công chức; xây dựng cơ chế thu hút sự tham gia của các chuyên gia đầu ngành, các nhà khoa học và tổ chức xã hội - nghề nghiệp vào quá trình xây dựng chính sách, dự thảo văn bản.
  • Giải pháp về phương tiện, cơ sở vật chất và kinh phí: Đầu tư hiện đại hóa hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ công tác tra cứu, rà soát, hệ thống hóa và lấy ý kiến văn bản; bảo đảm kinh phí đầy đủ và kịp thời theo Điều 171 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 cho các hoạt động khảo sát thực tế, đánh giá tác động của chính sách (RIA), thẩm định và truyền thông chính sách.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã khái quát và định lượng được diện mạo hệ thống VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN tại Việt Nam trong gần một thập kỷ (2015–2023 và đầu năm 2024), cung cấp các số liệu thực tế được trích xuất từ đợt hệ thống hóa kỳ 2019–2023:

  • Xác lập cơ cấu số lượng gồm 2 Luật chuyên ngành, 9 Nghị quyết của UBTVQH, 27 Nghị định của Chính phủ, 16 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, 155 Thông tư/Thông tư liên tịch từ cấp trung ương, cùng 115 Nghị quyết HĐND và khoảng 2.030 Quyết định UBND cấp tỉnh.
  • Gắn kết việc phân tích tính khả thi của văn bản pháp luật KH&CN với các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cụ thể, đặc biệt là tốc độ tăng năng suất lao động xã hội (bình quân 6,05%/năm giai đoạn 2016–2020).
  • Làm rõ tính đặc thù của hoạt động lập quy trong lĩnh vực KH&CN: yêu cầu văn bản pháp luật phải vừa giữ vững trật tự quản lý nhà nước, vừa phải dự liệu được tính rủi ro, độ trễ và tốc độ đổi mới nhanh chóng của công nghệ hiện đại.

Về mặt đóng góp học thuật, tác giả chỉ ra rằng các công trình nghiên cứu trước đây (như của các tác giả Nguyễn Thị Hải Hà, Nguyễn Hương Thảo, Nguyễn Thế Anh năm 2016; Đặng Thị Quyên, Trần Văn Triển năm 2019) chỉ tiếp cận hoạt động ban hành VBQPPL ở từng khâu riêng lẻ (tham vấn nhân dân, thẩm định, đánh giá tác động chính sách) hoặc nghiên cứu theo các ngành kinh tế - kỹ thuật khác (giao thông vận tải, lâm nghiệp). Khóa luận này là công trình nghiên cứu chuyên biệt đầu tiên phân tích bao quát toàn diện hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN tại Việt Nam, kết nối từ cơ sở lý luận đến thực tiễn ban hành của các cơ quan lập pháp, hành pháp ở cả cấp trung ương lẫn chính quyền địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và nguồn dữ liệu:

  • Về phạm vi thời gian: Khảo sát thực trạng chủ yếu tập trung trong giai đoạn 2015–2023, do đó các văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế chính sách mới ban hành từ sau thời điểm quý I năm 2024 chưa được phân tích toàn diện.
  • Về dữ liệu địa phương: Mặc dù khóa luận đưa ra số lượng tổng hợp lớn (115 Nghị quyết HĐND, khoảng 2.030 Quyết định UBND cấp tỉnh), tác giả chưa đi sâu phân tích cơ cấu nội dung và chất lượng chi tiết của từng nhóm văn bản địa phương do giới hạn dung lượng và tính sẵn có của hồ sơ ban hành ở cấp cơ sở.

Từ các hạn chế này, hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng vào việc đánh giá tác động sau ban hành (ex-post evaluation) của hệ thống VBQPPL KH&CN đối với hoạt động của doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo; nghiên cứu cơ chế thử nghiệm pháp lý có kiểm soát (regulatory sandbox) đối với các công nghệ đột phá mới (trí tuệ nhân tạo, chuỗi khối, dữ liệu lớn); và khảo sát chuyên sâu hoạt động ban hành văn bản quản lý KH&CN tại từng vùng kinh tế trọng điểm.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật học (đặc biệt là chuyên ngành Luật Hành chính - Nhà nước, Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật), chuyên ngành Quản lý công và Quản lý khoa học và công nghệ.

Nội dung nghiên cứu có giá trị thực tiễn đối với cán bộ pháp chế tại Bộ Khoa học và Công nghệ, các sở, ban, ngành địa phương, cũng như chuyên viên tham mưu tại Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội, HĐND và UBND các tỉnh, thành phố. Đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu có hệ thống về số lượng và chủng loại văn bản, quy trình thẩm định, lấy ý kiến và các căn cứ viện dẫn pháp lý thực tế, hỗ trợ trực tiếp cho công tác rà soát, hệ thống hóa và nâng cao chất lượng soạn thảo VBQPPL KH&CN.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận ghi nhận bao nhiêu văn bản luật và nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất trong lĩnh vực KH&CN giai đoạn 2015–2024?
Theo số liệu thống kê được tác giả trích xuất từ kỳ hệ thống hóa 2019–2023, Quốc hội đã ban hành 2 luật (Luật Chuyển giao công nghệ năm 2017 và Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2022). UBTVQH đã ban hành 9 nghị quyết liên quan đến lĩnh vực KH&CN.

2. Số lượng Nghị định của Chính phủ và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ trong lĩnh vực KH&CN được phân bổ theo các lĩnh vực quản lý cụ thể như thế nào?

  • Chính phủ đã ban hành 27 nghị định, bao gồm: 11 nghị định về quản lý KH&CN; 4 nghị định về quản lý công nghệ cao và chuyển giao công nghệ; 2 nghị định về năng lượng nguyên tử; 1 nghị định về sở hữu trí tuệ; cùng các nghị định thuộc lĩnh vực khác.
  • Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 16 quyết định, bao gồm: 8 quyết định về quản lý công nghệ cao và chuyển giao công nghệ; 5 quyết định về quản lý KH&CN; 2 quyết định về tiêu chuẩn đo lường chất lượng; và 1 quyết định về sở hữu trí tuệ.

3. Tác giả sử dụng chỉ số năng suất lao động giai đoạn 2015–2022 nhằm chứng minh điều gì?
Tác giả dẫn chứng chỉ số tăng năng suất lao động (bình quân giai đoạn 2016–2020 đạt 6,05%, năm 2021 đạt 4,6%, năm 2022 đạt 4,7%) nhằm đánh giá tính khả thi và tác động kinh tế - xã hội của hệ thống VBQPPL trong lĩnh vực KH&CN, chứng minh vai trò của thể chế KH&CN đối với việc thúc đẩy năng suất và phát triển kinh tế đất nước theo các mục tiêu chiến lược của Đảng.

4. Điểm đặc thù nào cần được chú trọng khi xây dựng thủ tục hành chính trong VBQPPL về KH&CN theo phân tích của tác giả?
Khóa luận nhấn mạnh thủ tục hành chính trong các VBQPPL về KH&CN phải phù hợp với đặc thù của lao động sáng tạo, chấp nhận rủi ro trong nghiên cứu khoa học theo thông lệ quốc tế; đồng thời cần cắt giảm các thủ tục rườm rà trong cơ chế tài chính và cơ chế thu hút chuyên gia, nhà khoa học kiều bào cũng như chuyên gia quốc tế tham gia vào các hoạt động KH&CN trong nước.

5. Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật về KH&CN ở cấp địa phương được ghi nhận với quy mô ra sao?
Từ năm 2015 đến tháng 01/2024, chính quyền địa phương cấp tỉnh đã ban hành 115 nghị quyết của HĐND cấp tỉnh và khoảng 2.030 quyết định của UBND cấp tỉnh để cụ thể hóa các chính sách KH&CN phù hợp với điều kiện thực tế tại địa phương.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Sỹ Tới đã phân tích một cách có hệ thống những vấn đề lý luận và thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực khoa học và công nghệ tại Việt Nam giai đoạn 2015–2023. Thông qua việc tổng hợp số liệu thực tế từ cơ sở dữ liệu hệ thống hóa của Bộ Khoa học và Công nghệ và chính quyền địa phương, công trình đã chỉ rõ những thành tựu đạt được về quy mô, chất lượng văn bản, đồng thời nhận diện thẳng thắn các tồn tại về độ trễ thể chế và tính đặc thù trong quản lý nghiên cứu sáng tạo. Hệ thống các giải pháp được đề xuất về hoàn thiện luật định, củng cố nguồn nhân lực pháp chế và bảo đảm hạ tầng kỹ thuật, tài chính có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác hoàn thiện thể chế khoa học và công nghệ hiện nay.