Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) là một trong những hình thức hoạt động quan trọng của các cơ quan quản lý nhà nước nói chung và chính quyền địa phương nói riêng. Căn cứ quy định tại Khoản 1 Điều 2 và Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Trong hệ thống chính quyền địa phương, Hội đồng nhân dân (HĐND) cấp tỉnh giữ vai trò là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân. Các văn bản do HĐND cấp tỉnh ban hành đóng vai trò cụ thể hóa đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước cấp trên, đồng thời thiết lập hành lang pháp lý điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong phạm vi lãnh thổ địa phương.
Tại tỉnh Ninh Bình, sau khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có hiệu lực thi hành, công tác xây dựng VBQPPL của HĐND tỉnh đã đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ những vướng mắc và tồn tại: chất lượng một số văn bản chưa đáp ứng yêu cầu thực tế; một số quy định pháp luật điều chỉnh hoạt động này còn thiếu tính cụ thể, rõ ràng; năng lực và trình độ chuyên môn của một bộ phận cán bộ, công chức trực tiếp tham gia công tác xây dựng văn bản còn hạn chế. Xuất phát từ bối cảnh đó, khóa luận tập trung nghiên cứu lý luận và đánh giá thực tiễn hoạt động xây dựng VBQPPL của HĐND tỉnh Ninh Bình nhằm xác định rõ nguyên nhân của những bất cập, từ đó kiến nghị các giải pháp nâng cao chất lượng công tác này.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định qua 03 nội dung cụ thể:
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động xây dựng VBQPPL của HĐND cấp tỉnh.
- Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật liên quan; đánh giá thực trạng ban hành VBQPPL của HĐND tỉnh Ninh Bình, chỉ ra các hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
- Đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả hoạt động xây dựng VBQPPL của HĐND tỉnh, đáp ứng các tiêu chuẩn về tính thống nhất, minh bạch, khả thi và hiệu quả.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động xây dựng VBQPPL của HĐND cấp tỉnh trên các phương diện lý luận, quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn thi hành.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Ninh Bình, tập trung vào hoạt động của HĐND tỉnh Ninh Bình và các cơ quan chuyên môn liên quan (Ủy ban nhân dân tỉnh, Sở Tư pháp, các Ban của HĐND tỉnh).
- Phạm vi thời gian: Từ ngày 01/07/2016 (thời điểm Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 chính thức có hiệu lực thi hành) đến hết ngày 31/12/2023.
Cơ sở lý luận, pháp lý và phương pháp nghiên cứu
Khóa luận được xây dựng trên nền tảng khoa học pháp lý về nhà nước và pháp luật, lý luận về hoạt động lập quy của chính quyền địa phương và các quy phạm pháp luật thực định của Việt Nam:
- Hệ thống văn bản pháp luật áp dụng: Hiến pháp năm 2013; Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Luật Ngân sách nhà nước năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Nghị định số 34/2016/NĐ-CP ngày 14/05/2016 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành VBQPPL; Nghị định số 154/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2016/NĐ-CP; Hướng dẫn số 341/HD-STP ngày 22/06/2021 của Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình về trình tự, thủ tục xây dựng VBQPPL.
- Bản chất pháp lý của hoạt động: Khóa luận xác định hoạt động xây dựng VBQPPL của HĐND cấp tỉnh mang tính chất của hoạt động lập quy (hay lập pháp ủy quyền), chịu sự ràng buộc bởi nguyên tắc thứ bậc hiệu lực pháp lý, sự giám sát của cơ quan nhà nước cấp trên và chỉ được ban hành trong phạm vi 04 nhóm vấn đề thuộc thẩm quyền nội dung quy định tại Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả vận dụng gồm:
- Phương pháp lịch sử: Theo dõi quá trình vận động của các quy định pháp luật về ban hành văn bản qua các thời kỳ (Luật năm 1996, 2004, 2008, 2015 và sửa đổi 2020).
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Mổ xẻ các yếu tố cấu thành quy trình lập đề nghị, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra, biểu quyết thông qua nghị quyết; khái quát hóa các sai sót thực tế.
- Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại và xử lý số liệu ban hành nghị quyết, số liệu kiểm tra, rà soát, xử lý VBQPPL giai đoạn 2016–2023.
- Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu quy định của Luật năm 2015 với Luật năm 2004; đối chiếu văn bản do địa phương ban hành với quy định của văn bản quy phạm pháp luật cấp trên.
- Phương pháp trao đổi, thảo luận cùng chuyên gia: Tham vấn ý kiến chuyên môn trong lĩnh vực xây dựng văn bản pháp luật.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm: Báo cáo số 22/BC-STP ngày 05/02/2024 của Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình về việc đánh giá thực trạng thi hành Luật Ban hành VBQPPL; số liệu công bố của Tổng cục Thống kê về tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Ninh Bình; dữ liệu tra cứu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật; hồ sơ các nghị quyết cụ thể được ban hành bởi HĐND tỉnh Ninh Bình qua các kỳ họp khóa XIV và khóa XV.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý về hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh
Chương 1 hệ thống hóa các khái niệm, đặc điểm, vai trò, nguyên tắc và quy trình xây dựng VBQPPL của HĐND cấp tỉnh theo quy định của pháp luật Việt Nam.
Dưới góc độ pháp lý, tác giả phân tích khái niệm VBQPPL theo Điều 2 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 và chỉ ra 04 đặc điểm nhận diện: do chủ thể có thẩm quyền ban hành; chứa đựng quy tắc xử sự chung áp dụng nhiều lần; ban hành theo đúng hình thức luật định; tuân thủ trình tự, thủ tục luật định. Đối với HĐND cấp tỉnh, VBQPPL có những đặc thù riêng biệt:
- Thẩm quyền hình thức: HĐND cấp tỉnh chỉ được ban hành một hình thức VBQPPL duy nhất là "Nghị quyết" (Khoản 9 Điều 4 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015). Không phải mọi nghị quyết đều là VBQPPL; các trường hợp nghị quyết cá biệt được phân định cụ thể tại Khoản 3 Điều 3 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Khoản 1 Điều 1 Nghị định số 154/2020/NĐ-CP.
- Thẩm quyền nội dung: Căn cứ Điều 27 Luật năm 2015, HĐND cấp tỉnh chỉ ban hành nghị quyết QPPL trong 04 trường hợp:
- Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong VBQPPL của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Ban hành chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên;
- Quy định biện pháp nhằm phát triển kinh tế - xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương;
- Quy định biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.
Về bản chất, hoạt động xây dựng VBQPPL của HĐND cấp tỉnh là hoạt động lập quy, mang tính chấp hành và điều hành, không sáng tạo ra quy phạm vượt ra ngoài khuôn khổ luật định, đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ từ Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Bộ Tư pháp. Hoạt động này giữ vai trò cụ thể hóa chính sách trung ương, khắc phục "khoảng trống" pháp luật mang tính cục bộ và tạo căn cứ pháp lý để địa phương phân bổ nguồn lực.
Tác giả phân tích 05 nguyên tắc cốt lõi quy định tại Điều 5 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015: bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp và thống nhất; tuân thủ đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục; bảo đảm tính công khai, minh bạch; bảo đảm tính khả thi, tiết kiệm, hiệu quả, lồng ghép bình đẳng giới, cải cách thủ tục hành chính; bảo đảm yêu cầu quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường và tuân thủ điều ước quốc tế.
Quy trình xây dựng nghị quyết được luật hóa qua các giai đoạn độc lập:
- Lập đề nghị xây dựng nghị quyết: Phân biệt rõ giữa quy trình chính sách đầy đủ gồm 07 bước đối với nghị quyết quy định biện pháp đặc thù (Khoản 4 Điều 27) và quy trình lập đề nghị rút gọn đối với các trường hợp còn lại. Các bước của quy trình chính sách gồm: xây dựng nội dung chính sách, đánh giá tác động chính sách (RIA), lập hồ sơ, lấy ý kiến, Sở Tư pháp thẩm định đề nghị, UBND tỉnh thông qua và trình Thường trực HĐND tỉnh chấp thuận.
- Soạn thảo: Cơ quan chủ trì soạn thảo chi tiết hóa nội dung, tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động và đăng tải công khai trên Cổng thông tin điện tử tối thiểu 30 ngày.
- Thẩm định và thẩm tra: Sở Tư pháp thẩm định dự thảo về tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất và kỹ thuật soạn thảo (chậm nhất 20 ngày trước phiên họp UBND); Ban của HĐND thẩm tra về sự phù hợp với đường lối, chính sách và điều kiện thực tế (chậm nhất 15 ngày trước kỳ họp HĐND).
- Thông qua, ban hành: Hồ sơ gửi đại biểu HĐND chậm nhất 07 ngày trước kỳ họp; dự thảo được thông qua khi có quá nửa tổng số đại biểu HĐND biểu quyết tán thành; Chủ tịch HĐND ký chứng thực và đăng Công báo cấp tỉnh.
Chương 2: Thực trạng hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình
Chương 2 phản ánh chi tiết thực trạng xây dựng VBQPPL của HĐND tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016–2023 gắn với bối cảnh kinh tế - xã hội địa phương và cơ cấu tổ chức bộ máy.
Về bối cảnh thực tiễn, tỉnh Ninh Bình có tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2016–2023 đạt 6,09%/năm (năm 2016–2020 đạt bình quân 6,35%, năm 2021 đạt 5,71%, năm 2022 đạt 9,62%, năm 2023 đạt 7,27%). Ngành du lịch năm 2023 đón hơn 6,5 triệu lượt khách, doanh thu đạt gần 6.380 tỷ đồng. Cơ cấu tổ chức HĐND tỉnh Ninh Bình khóa XV (nhiệm kỳ 2021–2026) gồm 50 đại biểu; Chủ tịch HĐND là Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy kiêm nhiệm, 02 Phó Chủ tịch và lãnh đạo của 03 Ban HĐND hoạt động theo chế độ chuyên trách. Trải qua 07 nhiệm kỳ (từ khóa IX đến khóa XV), HĐND tỉnh đã tổ chức 95 kỳ họp và ban hành hơn 940 nghị quyết.
Trong giai đoạn từ ngày 01/07/2016 đến ngày 31/12/2023, công tác xây dựng VBQPPL của HĐND tỉnh Ninh Bình đạt được các kết quả cụ thể về số lượng và quy trình:
- Số lượng văn bản: HĐND tỉnh đã ban hành tổng cộng 123 nghị quyết quy phạm pháp luật. Số lượng văn bản có xu hướng tăng qua các năm, tập trung cao nhất vào năm 2021 (giai đoạn phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19 và điều chỉnh chính sách an sinh, hỗ trợ phát triển kinh tế).
- Thực hiện quy trình: 100% dự thảo nghị quyết QPPL của HĐND tỉnh đều được Sở Tư pháp tổ chức thẩm định trước khi trình UBND tỉnh xem xét. Riêng năm 2023, Sở Tư pháp đã thẩm định 112 dự thảo VBQPPL của cả HĐND và UBND tỉnh. Đã có 114 nghị quyết QPPL của HĐND tỉnh ban hành giai đoạn này được cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật.
Số liệu tổng hợp về công tác xây dựng và rà soát VBQPPL tại tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016–2023 được trình bày trong bảng sau:
| Chỉ số theo dõi công tác VBQPPL |
Số liệu ghi nhận (2016–2023) |
Ghi chú |
| Tổng số Nghị quyết QPPL do HĐND tỉnh ban hành |
123 |
Báo cáo số 22/BC-STP của Sở Tư pháp |
| Số Nghị quyết đã cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia |
114 |
Cập nhật tính đến ngày 10/03/2024 |
| Tổng số VBQPPL tự kiểm tra (cả HĐND và UBND tỉnh) |
501 |
Kiến nghị xử lý 03 văn bản, đã xử lý 03/03 |
| Số lượng văn bản kiểm tra theo thẩm quyền |
124 |
Phát hiện 03 văn bản có nội dung trái pháp luật |
| Số dự thảo VBQPPL thẩm định trong năm 2023 |
112 |
Tính chung dự thảo của HĐND và UBND tỉnh |
| Số lượt góp ý qua Cổng thông tin điện tử tỉnh (30 ngày) |
0 |
Không ghi nhận phản hồi từ năm 2016 đến 2023 |
Bên cạnh những mặt đạt được, tác giả chỉ ra các hạn chế, sai sót cụ thể trong thực tiễn:
- Về kỹ thuật lập pháp và thể thức: Nhiều văn bản viện dẫn căn cứ pháp lý không cần thiết, vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 61 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP. Điển hình, Nghị quyết số 55/2019/NQ-HĐND ngày 06/12/2019 về chính sách áp dụng cho huyện Yên Mô đã viện dẫn cả Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 trong phần căn cứ, trong khi luật này không phải là căn cứ pháp lý quy định nội dung, thẩm quyền vật chất cho nghị quyết.
- Về ngôn ngữ diễn đạt: Xuất hiện lỗi chính tả, dùng từ sai nghĩa học thuật làm giảm tính chuẩn xác của văn bản. Cụ thể, Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND quy định chế độ công tác phí, chi hội nghị đã sử dụng cụm từ "trong phạm vi tổng dự toán được cấp có thẩm quyền giao hàng năm". Tác giả phân tích từ góc độ từ điển tiếng Việt: từ "hàng năm" dùng sai ngữ nghĩa, bắt buộc phải dùng phụ từ "hằng năm" để chỉ tính chất lặp đi lặp lại có tính định kỳ theo đơn vị thời gian.
- Về phân loại văn bản: Tồn tại tình trạng nhầm lẫn giữa VBQPPL và văn bản cá biệt (văn bản áp dụng pháp luật). Điển hình là Nghị quyết số 114/2021/NQ-HĐND về việc cấp lại 15% số thu tiền sử dụng đất để trích lập Quỹ Phát triển đất năm 2021 cho UBND huyện Nho Quan và thị trấn Nho Quan. Tác giả chứng minh văn bản này áp dụng cho đối tượng đích danh cụ thể, không chứa đựng quy tắc xử sự chung áp dụng nhiều lần, do đó không thể ban hành dưới hình thức VBQPPL.
- Về quy trình thực tế: Báo cáo đánh giá tác động chính sách (RIA) tại các đề nghị xây dựng nghị quyết theo khoản 4 Điều 27 còn mang tính hình thức, sử dụng phương pháp định tính sơ sài, thiếu số liệu định lượng chi phí - lợi ích. Việc lấy ý kiến đóng góp dự thảo bằng hình thức đăng tải trên Cổng thông tin điện tử trong thời hạn 30 ngày hoàn toàn không đem lại hiệu quả thực tế (từ năm 2016 đến hết năm 2023 không thu nhận được bất kỳ ý kiến đóng góp nào qua kênh này); chưa từng tổ chức đối thoại trực tiếp theo Khoản 2 Điều 113 Luật năm 2015. Công tác phối hợp gửi hồ sơ thẩm định thường sát ngày kỳ họp HĐND gây áp lực thời gian, trong khi cán bộ thẩm định của Sở Tư pháp thiếu kiến thức chuyên sâu về các lĩnh vực kinh tế - kỹ thuật đặc thù.
Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình
Từ kết quả phân tích bất cập tại Chương 2, Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao chất lượng công tác xây dựng VBQPPL của HĐND tỉnh Ninh Bình, bao gồm 03 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Các giải pháp hoàn thiện quy định của Luật Ban hành VBQPPL: Kiến nghị sửa đổi, bổ sung các điều khoản trong luật nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về trình tự, thủ tục lập đề nghị; cụ thể hóa tiêu chí xác định ranh giới giữa VBQPPL và văn bản hành chính cá biệt; quy định rõ ràng hơn các trường hợp nghị quyết đặc thù theo Khoản 4 Điều 27 để địa phương dễ áp dụng đồng bộ.
- Các giải pháp bảo đảm hiệu quả thực thi:
- Thiết lập cơ chế xác định trách nhiệm rõ ràng đối với từng chủ thể trong quy trình: từ cơ quan chủ trì lập đề nghị, cơ quan soạn thảo đến cơ quan thẩm định và cơ quan thẩm tra; gắn trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ với chất lượng văn bản được ban hành.
- Bảo đảm kinh phí thỏa đáng và kịp thời cho các hoạt động xây dựng văn bản, đặc biệt là nguồn kinh phí phục vụ điều tra, khảo sát thực tế, tổ chức hội thảo, tọa đàm và thuê chuyên gia độc lập đánh giá tác động chính sách (RIA).
- Đổi mới hình thức lấy ý kiến đóng góp của người dân: chuyển đổi từ hình thức đăng tải thụ động trên Cổng thông tin điện tử sang cơ chế chủ động lấy ý kiến qua đối thoại trực tiếp với các hiệp hội doanh nghiệp, người dân chịu sự tác động; phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh và Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).
- Các giải pháp về tổ chức, cán bộ:
- Xây dựng Đề án "Nâng cao năng lực xây dựng VBQPPL cho cán bộ, công chức trực tiếp tham gia vào công tác xây dựng, ban hành VBQPPL ở địa phương".
- Tổ chức thường xuyên các khóa bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng chuyên sâu về kỹ thuật soạn thảo, phương pháp đo lường tác động kinh tế - xã hội của chính sách, kỹ năng thẩm định và thẩm tra văn bản pháp luật cho đội ngũ công chức Sở Tư pháp và chuyên viên các Ban của HĐND tỉnh.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận cung cấp bức tranh thực chứng toàn diện về hoạt động xây dựng VBQPPL của chính quyền cấp tỉnh thông qua trường hợp HĐND tỉnh Ninh Bình:
- Kết quả số liệu thực tế: Hệ thống hóa 123 nghị quyết quy phạm pháp luật ban hành trong giai đoạn 2016–2023; thống kê 501 văn bản thuộc diện tự kiểm tra (đã xử lý 03 văn bản) và 124 văn bản kiểm tra theo thẩm quyền (phát hiện và xử lý 03 văn bản trái pháp luật); ghi nhận 114 nghị quyết được đồng bộ trên Cơ sở dữ liệu quốc gia.
- Phát hiện nghiên cứu: Khóa luận chỉ ra thực trạng "con số 0" trong việc lấy ý kiến nhân dân qua Cổng thông tin điện tử suốt hơn 7 năm thi hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 tại Ninh Bình. Tác giả mổ xẻ cụ thể các sai sót mang tính điển hình mà các cơ quan xây dựng văn bản cấp tỉnh thường mắc phải: sự nhầm lẫn bản chất giữa văn bản cá biệt và VBQPPL (Nghị quyết 114/2021/NQ-HĐND), lỗi viện dẫn thừa căn cứ pháp lý quy định thẩm quyền chung (Nghị quyết 55/2019/NQ-HĐND), và lỗi chính tả học thuật ("hàng năm" thay vì "hằng năm" trong Nghị quyết 14/2017/NQ-HĐND).
- Đóng góp học thuật và thực tiễn: Khóa luận là một trong số ít công trình nghiên cứu chuyên sâu về quy trình xây dựng VBQPPL của HĐND tỉnh Ninh Bình dưới tác động của Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 sửa đổi năm 2020. Nghiên cứu đề xuất được các giải pháp mang tính ứng dụng cao, gắn liền giữa việc sửa đổi luật trung ương với việc ban hành đề án đào tạo cán bộ tại địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung chủ yếu vào cấp tỉnh (HĐND tỉnh Ninh Bình) trong khung thời gian từ 01/07/2016 đến hết ngày 31/12/2023. Đề tài chưa mở rộng khảo sát so sánh chuyên sâu về hoạt động xây dựng VBQPPL của HĐND cấp huyện, cấp xã trên cùng địa bàn, cũng như chưa đi sâu vào toàn bộ chu trình thi hành và đánh giá tác động sau ban hành (hậu kiểm) của 123 nghị quyết nêu trên.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi nghiên cứu sang cấp huyện và cấp xã tại tỉnh Ninh Bình để đánh giá tính đồng bộ của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật địa phương; thực hiện các nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa tỉnh Ninh Bình và các địa phương khác trong khu vực đồng bằng sông Hồng; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế kiểm soát tính khả thi và đo lường chi phí tuân thủ thủ tục hành chính trong các nghị quyết chính sách đặc thù của chính quyền địa phương.
Giá trị tham khảo
- Đối với sinh viên, học viên ngành Luật và Quản lý nhà nước: Khóa luận là tài liệu tham khảo chi tiết về phương pháp tiếp cận một đề tài xây dựng pháp luật thực định; cung cấp các lập luận khoa học để phân tích cấu trúc Điều 27 Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 và các bước thực tế của quy trình lập quy.
- Đối với cơ quan tư pháp và cơ quan dân cử địa phương: Các phân tích lỗi sai về kỹ thuật lập pháp, căn cứ viện dẫn và phân loại văn bản trong công trình là tài liệu hữu ích giúp cán bộ chuyên trách tại Văn phòng Đoàn ĐBQH và HĐND, Sở Tư pháp, các Ban chuyên môn của HĐND phòng ngừa rủi ro sai sót trong quá trình soạn thảo, thẩm định, thẩm tra dự thảo nghị quyết.
Câu hỏi thường gặp
1. HĐND tỉnh Ninh Bình đã ban hành bao nhiêu VBQPPL từ ngày 01/07/2016 đến hết năm 2023 và năm nào đạt số lượng lớn nhất?
Từ ngày 01/07/2016 đến ngày 31/12/2023, HĐND tỉnh Ninh Bình đã ban hành tổng cộng 123 nghị quyết quy phạm pháp luật (theo Báo cáo số 22/BC-STP ngày 05/02/2024 của Sở Tư pháp). Số lượng văn bản ban hành cao nhất được ghi nhận vào năm 2021, xuất phát từ yêu cầu ban hành kịp thời các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội trong giai đoạn đại dịch Covid-19.
2. Khóa luận nêu trường hợp nhầm lẫn điển hình nào giữa VBQPPL và văn bản cá biệt của HĐND tỉnh Ninh Bình?
Trường hợp điển hình là Nghị quyết số 114/2021/NQ-HĐND về việc cấp lại 15% số thu tiền sử dụng đất để trích lập Quỹ Phát triển đất năm 2021 cho UBND huyện Nho Quan và thị trấn Nho Quan. Văn bản này áp dụng cho đối tượng đích danh cụ thể (UBND huyện Nho Quan và thị trấn Nho Quan) chứ không chứa quy tắc xử sự chung áp dụng nhiều lần, do đó bản chất là văn bản áp dụng pháp luật (văn bản cá biệt) nhưng lại được ban hành dưới hình thức VBQPPL.
3. Kết quả lấy ý kiến đóng góp dự thảo VBQPPL qua Cổng thông tin điện tử của tỉnh Ninh Bình diễn ra như thế nào trong giai đoạn 2016–2023?
Mặc dù việc đăng tải dự thảo trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh trong thời hạn ít nhất 30 ngày được thực hiện tương đối đầy đủ theo quy định của Luật năm 2015, nhưng tính từ năm 2016 đến hết năm 2023, cơ quan chức năng hoàn toàn không nhận được bất kỳ ý kiến đóng góp nào từ người dân và doanh nghiệp qua phương thức này, cho thấy hình thức lấy ý kiến trực tuyến còn mang nặng tính hình thức.
4. Khóa luận đã phát hiện lỗi kỹ thuật lập pháp và ngôn ngữ cụ thể nào trong các nghị quyết đã ban hành của HĐND tỉnh Ninh Bình?
Về căn cứ ban hành: Nghị quyết số 55/2019/NQ-HĐND ngày 06/12/2019 đã viện dẫn thừa "Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngày 22 tháng 6 năm 2015" làm căn cứ ban hành, trái với quy tắc tại Điều 61 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP (chỉ viện dẫn văn bản quy định thẩm quyền chức năng và văn bản quy định nội dung). Về ngôn ngữ: Nghị quyết số 14/2017/NQ-HĐND dùng sai từ "hàng năm" thay vì phải dùng từ "hằng năm" để chỉ tần suất lặp lại định kỳ theo thời gian.
5. Kết quả tự kiểm tra và kiểm tra văn bản theo thẩm quyền của cơ quan tư pháp tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn nghiên cứu được ghi nhận ra sao?
Theo Báo cáo số 22/BC-STP của Sở Tư pháp tỉnh Ninh Bình, các cơ quan có thẩm quyền đã tiến hành tự kiểm tra đối với 501 VBQPPL của HĐND và UBND tỉnh, qua đó kiến nghị xử lý 03 văn bản và đã hoàn thành xử lý cả 03 văn bản này. Đối với công tác kiểm tra theo thẩm quyền trên 124 văn bản, cơ quan chức năng đã phát hiện 03 văn bản có nội dung trái pháp luật và tiến hành xử lý kịp thời.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hà Vy là công trình nghiên cứu chuyên khảo có giá trị lý luận và thực tiễn về hoạt động xây dựng VBQPPL của HĐND tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2016–2023. Bằng việc kết hợp các phương pháp nghiên cứu pháp lý thực định và xử lý số liệu báo cáo của Sở Tư pháp, tác giả đã làm rõ bản chất hoạt động lập quy, chỉ ra các sai sót cụ thể về kỹ thuật lập pháp, thẩm quyền và ngôn ngữ diễn đạt trong các nghị quyết thực tế. Hệ thống giải pháp được đề xuất gồm sửa đổi quy định của Luật Ban hành VBQPPL, đổi mới cơ chế lấy ý kiến nhân dân và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực có tính ứng dụng cao, góp phần hoàn thiện thể chế quản lý nhà nước tại địa phương trong giai đoạn hiện nay.