Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Nhà ở là một trong những nhu cầu thiết yếu gắn liền với đời sống kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia, hộ gia đình và cá nhân. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhà ở không chỉ là tài sản có giá trị lớn của người dân mà còn phản ánh năng lực phát triển kinh tế, bộ mặt kiến trúc đô thị và có tác động liên đới trực tiếp đến việc phân bổ dân cư cùng hệ thống tài chính. Nhận thức rõ vai trò đó, Nhà nước sử dụng pháp luật làm công cụ quản lý chủ yếu thông qua việc ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) để điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực này.

Hoạt động xây dựng và ban hành VBQPPL đã có những chuyển biến quan trọng kể từ khi Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020) có hiệu lực từ ngày 01/01/2021. Mặc dù số lượng và chất lượng các VBQPPL về nhà ở do cơ quan nhà nước (CQNN) ở Trung ương ban hành ngày càng được nâng cao, thực tiễn thi hành vẫn bộc lộ không ít sai phạm, tồn đọng liên quan đến thẩm quyền ban hành, nội dung, kỹ thuật soạn thảo và trình tự, thủ tục xây dựng văn bản. Xuất phát từ thực trạng này, tác giả đã lựa chọn đề tài "Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương trong lĩnh vực nhà ở" nhằm phân tích toàn diện vấn đề từ góc độ lý luận đến thực tiễn.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu:

  • Mục đích nghiên cứu: Xác lập cơ sở lý luận và đánh giá thực tiễn hoạt động ban hành VBQPPL trong lĩnh vực nhà ở của các CQNN ở Trung ương; từ đó chỉ ra kết quả, hạn chế, nguyên nhân và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác ban hành VBQPPL trong thời gian tới.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động ban hành VBQPPL của CQNN ở Trung ương trong lĩnh vực nhà ở.
    2. Khảo sát, phân tích thực trạng ban hành VBQPPL trong lĩnh vực nhà ở của các chủ thể có thẩm quyền ở Trung ương, làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.
    3. Xây dựng hệ thống các giải pháp mang tính khả thi nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động ban hành VBQPPL của CQNN ở Trung ương trong lĩnh vực này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của các cơ quan nhà nước ở Trung ương trong lĩnh vực nhà ở.
  • Phạm vi nội dung: Các quy định pháp luật và hoạt động thực tiễn về thẩm quyền, quy trình, kỹ thuật soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và ban hành VBQPPL trong lĩnh vực nhà ở của các cơ quan Trung ương.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn hoạt động ban hành VBQPPL của CQNN ở Trung ương trong lĩnh vực nhà ở từ năm 2014 (thời điểm Luật Nhà ở năm 2014 được thông qua) đến nay.
  • Phạm vi chủ thể: Các cơ quan nhà nước ở Trung ương có thẩm quyền ban hành VBQPPL về nhà ở, bao gồm Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Chính phủ, Bộ Xây dựng và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các quan điểm, chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng Nhà nước pháp quyền và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Khung lý thuyết, khái niệm và văn bản pháp luật sử dụng:

  • Khái niệm nền tảng: Khái niệm VBQPPL theo quy định tại Điều 2 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015; khái niệm nhà ở và quyền có chỗ ở theo Điều 3 và Điều 4 Luật Nhà ở năm 2014.
  • Hệ thống văn bản pháp luật trong nước:
    • Hiến pháp năm 2013 (đặc biệt là Điều 22 về quyền có nơi ở hợp pháp, Điều 28 về quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, Điều 32 về quyền sở hữu nhà ở, Điều 59 về chính sách phát triển nhà ở).
    • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020); Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2019); Luật Nhà ở năm 2014; Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014; Luật Đầu tư năm 2014; Bộ luật Hình sự năm 2015 (Điều 343).
    • Các văn bản quy định chi tiết và kỹ thuật lập quy: Nghị quyết số 351/2017/UBTVQH14; các Nghị định của Chính phủ gồm Nghị định số 34/2016/NĐ-CP, Nghị định số 154/2020/NĐ-CP, Nghị định số 30/2020/NĐ-CP, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP, Nghị định số 139/2017/NĐ-CP.
    • Các nghị quyết chỉ đạo của Đảng: Nghị quyết số 19-NQ/TW (2012), Nghị quyết số 11-NQ/TW (2017), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nghị quyết số 26-NQ/TW (2018), Nghị quyết số 50/2022/QH15 và Nghị quyết số 530/NQ-UBTVQH15.
  • Chuẩn mực pháp luật quốc tế: Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (UDHR, 1948 - Điều 25(1)) và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR, 1966 - Điều 11(1)) ghi nhận quyền có chỗ ở thích đáng (the right to adequate housing).

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các quy định pháp luật về thẩm quyền, quy trình xây dựng VBQPPL, từ đó khái quát hóa thành các tiêu chí đánh giá chất lượng và các nhóm hạn chế, nguyên nhân thực tế.
  • Phương pháp so sánh, đối chiếu: Dùng để so sánh sự tương thích giữa hệ thống VBQPPL chuyên ngành nhà ở với Hiến pháp, các luật liên quan, điều ước quốc tế, cũng như đối chiếu quy định pháp luật với thực tế áp dụng.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu nghiên cứu được trích xuất trực tiếp từ hệ thống VBQPPL của Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng và Ngân hàng Nhà nước ban hành từ 2014 đến 2023; Báo cáo tổng kết hoạt động năm 2023 của Bộ Xây dựng; Báo cáo kết quả hoạt động năm 2022 của Tổ Công tác rà soát văn bản thuộc Cục Kiểm tra VBQPPL – Bộ Tư pháp; cùng các Báo cáo thẩm định chính thức của Bộ Tư pháp (Báo cáo số 02/BC-BTP, 15/BC-BTP, 20/BC-BTP, 42/BC-BTP năm 2018 và Công văn số 39/3/2019).


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát chung về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương trong lĩnh vực nhà ở

Chương 1 tập trung xây dựng cơ sở lý luận về VBQPPL trong lĩnh vực nhà ở, phân định thẩm quyền và quy trình lập quy của các cơ quan Trung ương:

  • Định nghĩa và đặc điểm: VBQPPL trong lĩnh vực nhà ở là văn bản do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền ban hành hoặc phối hợp ban hành theo hình thức, trình tự, thủ tục luật định, chứa đựng các quy tắc xử sự chung điều chỉnh quan hệ xã hội trong lĩnh vực nhà ở. Văn bản này mang đầy đủ 5 đặc điểm: do chủ thể có thẩm quyền ban hành; chứa quy phạm mang tính bắt buộc chung áp dụng nhiều lần; tuân thủ trình tự thủ tục luật định; bảo đảm thể thức và kỹ thuật trình bày; được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng quyền lực công (tuyên truyền kết hợp các chế tài xử phạt hành chính theo Nghị định số 139/2017/NĐ-CP hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 343 BLHS 2015).
  • Thẩm quyền ban hành của các cơ quan Trung ương:
    • Quốc hội: Ban hành Luật quy định các vấn đề cơ bản về nhà ở và ban hành Nghị quyết giải quyết các nhiệm vụ cấp bách.
    • UBTVQH: Ban hành Pháp lệnh theo ủy quyền của Quốc hội, Nghị quyết giải thích luật hoặc tạm ngưng/kéo dài thời hạn áp dụng văn bản.
    • Chính phủ: Ban hành Nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các điều, khoản được giao trong luật/pháp lệnh và hoạch định chính sách phát triển nhà ở theo Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015.
    • Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước: Ban hành Thông tư quy định chi tiết các điều khoản được giao và thực hiện biện pháp quản lý nhà nước theo chuyên ngành.
  • Quy trình ban hành:
    • Quy trình thông thường: Trải qua 6 giai đoạn chặt chẽ gồm: (1) Lập đề nghị xây dựng; (2) Soạn thảo (thành lập Ban soạn thảo, xây dựng đề cương, tổ chức lấy ý kiến đối tượng chịu tác động tối thiểu 60 ngày trên Cổng thông tin điện tử hoặc 20 ngày đối với văn bản gửi lấy ý kiến); (3) Thẩm định (do Bộ Tư pháp chủ trì) và thẩm tra (đối với dự án do Quốc hội/UBTVQH ban hành); (4) Trình dự thảo; (5) Xem xét, thông qua; (6) Công bố/ký ban hành và đăng Công báo nước CHXHCN Việt Nam.
    • Quy trình rút gọn: Áp dụng trong 05 nhóm trường hợp khẩn cấp, cấp bách hoặc sửa đổi/bãi bỏ văn bản theo khoản 44 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung năm 2020. Quy trình này cho phép rút ngắn thời gian thẩm định/thẩm tra xuống còn 07 ngày, lấy ý kiến tối đa 20 ngày (không bắt buộc) và văn bản có thể có hiệu lực ngay từ ngày thông qua hoặc ký ban hành.
  • Các yếu tố ảnh hưởng: Hoạt động ban hành chịu sự chi phối bởi 4 nhóm yếu tố: Chủ trương đường lối của Đảng (tiêu biểu là chỉ tiêu diện tích nhà ở bình quân toàn quốc đạt 27 - 27,5 m² sàn/người đến năm 2025 theo Nghị quyết Đại hội XIII); điều kiện kinh tế – xã hội (sự tham gia, phản biện và dư luận xã hội); nguồn nhân lực và kinh phí lập quy (định mức chi theo Thông tư số 42/2022/TT-BTC); các cam kết quốc tế về quyền có chỗ ở thích đáng (UDHR 1948, ICESCR 1966).

Chương 2: Thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương trong lĩnh vực nhà ở

Chương 2 đánh giá thực tế hoạt động ban hành VBQPPL từ năm 2014 đến năm 2024 thông qua hệ thống số liệu, văn bản cụ thể và chỉ ra các bất cập:

Cơ quan ban hành Loại văn bản Các văn bản tiêu biểu đã ban hành (2014 – 2023)
Quốc hội Luật - Luật Nhà ở năm 2014.
- Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của 9 luật (liên quan đến đầu tư, đấu thầu, doanh nghiệp...).
Chính phủ Nghị định - Nghị định số 99/2015/NĐ-CP (quy định chi tiết Luật Nhà ở).
- Nghị định số 100/2015/NĐ-CP (về quản lý và phát triển nhà ở xã hội).
- Nghị định số 117/2015/NĐ-CP (về hệ thống thông tin nhà ở, bất động sản).
- Nghị định số 139/2017/NĐ-CP (xử phạt vi phạm hành chính).
- Các Nghị định sửa đổi: 30/2019/NĐ-CP, 21/2020/NĐ-CP, 30/2021/NĐ-CP, 49/2021/NĐ-CP, 44/2022/NĐ-CP.
Bộ Xây dựng Thông tư - Thông tư số 05/2015/TT-BXD, 09/2015/TT-BXD, 08/2015/TT-BXD.
- Thông tư số 20/2016/TT-BXD, 27/2016/TT-BXD, 03/2018/TT-BXD.
- Thông tư số 09/2021/TT-BXD, 01/2022/TT-BXD, 03/2023/TT-BXD.
Ngân hàng Nhà nước Thông tư - Thông tư số 32/2014/TT-NHNN, 41/2014/TT-NHNN.
- Thông tư số 25/2015/TT-NHNN, 26/2015/TT-NHNN.
- Thông tư số 20/2021/TT-NHNN.
  • Những kết quả đạt được:
    • Về chất lượng chính trị và tính hợp lý: Văn bản ban hành đã kịp thời thể chế hóa các chủ trương phát triển nhà ở xã hội, nhà ở thương mại. Đơn cử, Nghị định số 49/2021/NĐ-CP điều chỉnh thời hạn cho vay mua, thuê mua nhà ở xã hội tối đa lên đến 25 năm, tạo điều kiện tiếp cận nhà ở cho người thu nhập thấp. Ngày 14/04/2023, Chính phủ đã hoàn thiện và trình Quốc hội Dự thảo Luật Nhà ở (sửa đổi).
    • Về tính hợp hiến, hợp pháp: Các văn bản ban hành bảo đảm phù hợp với các Điều 22, Điều 32, Điều 59 Hiến pháp năm 2013; tuân thủ thứ bậc hiệu lực pháp lý và tôn trọng các công ước quốc tế. Kỹ thuật lập quy cơ bản bảo đảm diễn đạt chuẩn xác, mạch lạc theo thứ tự logic (khái quát trước - cụ thể sau; quyền/nghĩa vụ trước - trình tự thủ tục sau).
  • Những tồn tại, hạn chế:
    • Văn bản lạc hậu, mâu thuẫn: Quy định về chương trình, kế hoạch phát triển nhà ở bị phân tán; yêu cầu phê duyệt kế hoạch hằng năm gây cứng nhắc, lúng túng cho địa phương; thiếu cơ chế kiểm tra giám sát và chính sách cải tạo chung cư cũ. Báo cáo năm 2022 của Tổ Công tác rà soát văn bản (Bộ Tư pháp) chỉ rõ: Trong tổng số 84 văn bản được rà soát (gồm 30 luật, 01 nghị quyết Quốc hội, 16 nghị định, 04 quyết định của Thủ tướng, 02 thông tư, 01 quyết định Bộ trưởng), có tới 18 văn bản tồn tại quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập.
    • Sai sót kỹ thuật soạn thảo: Dẫn chứng cụ thể tại Công văn số 333 của Bộ Xây dựng thừa ủy quyền Thủ tướng ký đính chính sai sót kỹ thuật tại khoản 5 Điều 6 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP (văn bản này ghi nhầm bãi bỏ khoản 2 Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP về nghĩa vụ dành quỹ đất 20% làm nhà ở xã hội, buộc phải đính chính để giữ lại điều khoản sau chưa đầy một tháng).
    • Hạn chế trong quy trình lập quy: Vẫn tồn tại tình trạng nợ đọng, chậm ban hành hoặc xin rút khỏi chương trình xây dựng văn bản. Khâu lấy ý kiến đối tượng chịu tác động còn hình thức, chung chung; khâu thẩm định của Bộ Tư pháp gặp tình trạng hồ sơ gửi sát ngày họp Chính phủ, thiếu tài liệu, báo cáo giải trình tiếp thu chưa thuyết phục (phản ánh tại các Báo cáo thẩm định số 02, 15, 20, 42 năm 2018 của Bộ Tư pháp).
  • Nguyên nhân của hạn chế:
    • Khách quan: Quan hệ xã hội trong lĩnh vực nhà ở biến động nhanh chóng, phức tạp theo nền kinh tế thị trường, gây khó khăn cho công tác dự báo lập pháp.
    • Chủ quan: Quy trình lập quy chưa được thực hiện nghiêm túc; nhiều cơ quan chỉ giao một chuyên viên nghiên cứu góp ý dẫn đến việc đóng góp chỉ dừng lại ở sửa lỗi chính tả; chế tài xử lý trách nhiệm người ban hành văn bản trái pháp luật theo Nghị định số 40/2010/NĐ-CP hầu như chưa được áp dụng trên thực tế.

Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước ở trung ương trong lĩnh vực nhà ở

Trên cơ sở nhận diện các hạn chế và nguyên nhân, tác giả định hình 5 nhóm giải pháp hoàn thiện công tác ban hành VBQPPL về nhà ở:

  1. Giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật: Sửa đổi, hoàn thiện Luật Nhà ở và các luật liên quan nhằm bảo đảm tính đồng bộ; rà soát, cắt giảm các quy định phân tán, chồng chéo trong hệ thống văn bản dưới luật.
  2. Giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực: Bồi dưỡng chuyên sâu kiến thức chuyên môn về pháp luật nhà ở, kỹ năng lập pháp, kỹ thuật soạn thảo văn bản cho đội ngũ cán bộ, công chức tham mưu trực tiếp.
  3. Giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan: Thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa cơ quan chủ trì soạn thảo (Bộ Xây dựng) với cơ quan thẩm định (Bộ Tư pháp), các bộ ngành liên quan (Ngân hàng Nhà nước, Bộ Tài nguyên và Môi trường) và Văn phòng Chính phủ.
  4. Giải pháp tăng cường công tác kiểm tra, tự kiểm tra và đánh giá văn bản: Đẩy mạnh hoạt động rà soát thường xuyên, siết chặt kỷ luật và thực hiện nghiêm các chế tài xử lý trách nhiệm đối với cơ quan, cá nhân tham mưu ban hành văn bản sai phạm.
  5. Giải pháp nâng cao cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí: Cải thiện điều kiện làm việc, ứng dụng công nghệ thông tin và tăng định mức kinh phí cho các hoạt động khảo sát thực tiễn, thuê chuyên gia phản biện và dịch thuật tài liệu theo Thông tư số 42/2022/TT-BTC.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực trạng pháp lý: Khóa luận đã phân tích có hệ thống các quy định về thẩm quyền, trình tự thủ tục lập quy thông thường và rút gọn của các cơ quan Trung ương trong lĩnh vực nhà ở theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2020).
  • Phát hiện và chứng minh bất cập bằng dữ liệu xác thực: Tác giả đã trích dẫn các số liệu thực tế từ cơ quan quản lý, tiêu biểu là kết quả rà soát của Cục Kiểm tra VBQPPL (Bộ Tư pháp) năm 2022 phát hiện 18/84 văn bản về nhà ở, kinh doanh bất động sản, quy hoạch đô thị có mâu thuẫn, chồng chéo; cùng sự cố sai sót kỹ thuật lập quy tại Nghị định số 35/2023/NĐ-CP phải đính chính bằng Công văn số 333 liên quan đến quỹ đất 20% nhà ở xã hội.
  • Đóng góp về mặt giải pháp: Công trình đề xuất 5 nhóm giải pháp cụ thể, bao quát từ khâu hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực nhân sự, tăng cường phối hợp liên ngành, kiểm tra văn bản đến bảo đảm kinh phí thực thi.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào hoạt động lập pháp và lập quy của các cơ quan nhà nước ở cấp Trung ương (Quốc hội, Chính phủ, Bộ Xây dựng, Ngân hàng Nhà nước) trong phạm vi thời gian từ năm 2014 đến năm 2024, chưa đi sâu khảo sát hoạt động ban hành VBQPPL của chính quyền địa phương (HĐND, UBND cấp tỉnh). Đồng thời, do tính chất phức tạp của lĩnh vực nhà ở và khả năng tiếp cận thực tiễn của sinh viên, một số đánh giá về nguyên nhân chủ quan còn mang tính khái quát.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu tác động thực tế của Luật Nhà ở (sửa đổi) sau khi được Quốc hội thông qua; nghiên cứu so sánh quy trình ban hành VBQPPL điều chỉnh nhà ở giữa cơ quan Trung ương và các cấp chính quyền địa phương.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Khóa luận là tài liệu tham khảo giá trị cho sinh viên, học viên chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật, Luật Hành chính – Nhà nước, Luật Đất đai – Nhà ở; các cán bộ, chuyên viên làm công tác soạn thảo, thẩm định, rà soát VBQPPL tại các Bộ, ngành và cơ quan nghiên cứu chính sách.
  • Nội dung đáng giá: Bảng thống kê hệ thống văn bản giai đoạn 2014 – 2023; phân tích chi tiết về quy trình lập quy rút gọn theo luật sửa đổi năm 2020; các dẫn chứng thực tế về sai sót kỹ thuật và quy trình thẩm định của Bộ Tư pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Cơ quan nhà nước ở Trung ương nào có thẩm quyền ban hành VBQPPL trong lĩnh vực nhà ở?
Theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015, các cơ quan Trung ương có thẩm quyền ban hành gồm: Quốc hội (Luật, Nghị quyết), UBTVQH (Pháp lệnh, Nghị quyết), Chính phủ (Nghị định), Bộ trưởng Bộ Xây dựng và Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Thông tư).

2. Sai sót kỹ thuật điển hình tại Nghị định số 35/2023/NĐ-CP được tác giả nêu ra là gì?
Khoản 5 Điều 6 Nghị định số 35/2023/NĐ-CP đã ghi nhầm bãi bỏ cả "khoản 2 Điều 5 và khoản 2 Điều 9" của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP. Sai sót này dẫn đến việc bãi bỏ nhầm quy định về việc chủ đầu tư dự án dưới 10 ha phải dành 20% quỹ đất xây dựng nhà ở xã hội hoặc nộp tiền tương đương. Bộ Xây dựng sau đó đã phải thừa ủy quyền Thủ tướng ký Công văn số 333 để đính chính, chỉ bãi bỏ khoản 2 Điều 9 và giữ lại khoản 2 Điều 5.

3. Theo Báo cáo năm 2022 của Bộ Tư pháp, có bao nhiêu văn bản trong lĩnh vực nhà ở, bất động sản, quy hoạch đô thị bị phát hiện mâu thuẫn, chồng chéo?
Tổ Công tác của Cục Kiểm tra VBQPPL (Bộ Tư pháp) đã rà soát 84 văn bản (gồm 30 luật, 01 nghị quyết Quốc hội, 16 nghị định, 04 quyết định của Thủ tướng, 02 thông tư, 01 quyết định Bộ trưởng) và phát hiện 18 văn bản có quy định mâu thuẫn, chồng chéo, bất cập, không còn phù hợp với thực tiễn.

4. Quy định về thời hạn cho vay nhà ở xã hội được sửa đổi có lợi nhất cho người dân trong văn bản nào?
Nghị định số 49/2021/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 100/2015/NĐ-CP) đã bổ sung quy định cho phép nâng thời hạn vay vốn ưu đãi để mua, thuê mua nhà ở xã hội do ngân hàng và khách hàng thỏa thuận phù hợp với khả năng trả nợ, với mức tối đa lên tới 25 năm kể từ ngày giải ngân khoản vay đầu tiên.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Lan Hương đã làm rõ các vấn đề lý luận và phản ánh chân thực bức tranh ban hành VBQPPL trong lĩnh vực nhà ở của các cơ quan nhà nước ở Trung ương giai đoạn 2014 – 2024. Công trình nhận diện rõ các điểm nghẽn về văn bản chồng chéo, sai sót kỹ thuật lập quy và sự lỏng lẻo trong quy trình soạn thảo, thẩm định. Hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong khóa luận cung cấp luận cứ khoa học thiết thực nhằm nâng cao chất lượng lập pháp, lập quy và thúc đẩy thị trường nhà ở phát triển minh bạch, bền vững.