Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ VIỆC NHẬN CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI 1. Khái niệm nhận con nuôi và quản lý nhà nước về nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài 1. Khái niệm nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài Con người ta được sinh ra trên cõi đời này, lớn lên, kết hôn và sinh con là một quy luật hết sức tự nhiên. Con cái được sinh ra là niềm h nh phúc lớn lao và niềm tự hào của cha mẹ.
Bậc làm cha, làm mẹ nào cũng mong muốn nuôi d y con mình nên người, được nhìn thấy con lớn lên từng ngày. Điều đó như là quy luật tốt đẹp của cuộc sống. Nhưng trong thực tế cuộc sống, mọi chuyện không phải lúc nào cũng tu n theo quy luật, quy luật cũng có ngo i lệ của nó. Không phải bậc làm cha, làm mẹ nào cũng có thể ở gần bên chăm sóc con ruột của mình.
Có người vì hoàn cảnh khó khăn, không thể nuôi con đã phải đành lòng cho con mình làm con nuôi. Cũng có trường hợp đứa trẻ sinh ra là đứa con ngoài ý muốn, là gánh nặng, là sự xấu hổ của gia đình. Những đứa trẻ bất h nh đó có thể bị bỏ rơi trong bệnh viện hay ở một nơi nào đó sau khi sinh. Cha mẹ của những đứa trẻ này đã chối bỏ trách nhiệm với chúng, và xã hội đã đứng ra gánh lấy trách nhiệm này.
Chính quyền địa phương, các cơ sở y tế, các cơ sở nuôi dưỡng trẻ em, những m nh thường qu n, các tổ chức nh n đ o xã hội vẫn ngày ngày tiến hành lập hồ sơ theo dõi, chăm sóc trẻ và tìm kiếm gia đình thay thế cho các trẻ em đó. Khi tìm được gia đình thay thế, quan hệ nuôi con nuôi hình thành. Ngoài những trường hợp đó còn có những trường hợp các cặp vợ chồng vô sinh hoặc không muốn sinh con nhưng họ vẫn mong muốn có con để chăm sóc, việc nhận con nuôi đã giải quyết được vấn đề này. Không chỉ xuất hiện trong thời gian gần đ y, nuôi con nuôi là một lo i quan hệ xã hội đã được hình thành từ rất l u trong xã hội loài người.
Quan hệ đó đã góp phần giúp mở ra những điều kiện tốt hơn trong vấn đề chăm sóc giáo dục trẻ em, góp phần làm các mối quan hệ gia đình thêm ấm áp, bền chặt. Trong quan hệ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, sự quan t m chăm sóc không chỉ từ phía cha mẹ nuôi dành 6 cho con nuôi, mà còn từ phía con nuôi quan t m đến cha mẹ nuôi của mình. Sự quan t m đến từ hai phía như vậy t o ra một không khí gia đình h nh phúc cho cả cha mẹ nuôi và con nuôi. Xét trên góc độ xã hội, quan hệ nuôi con nuôi đem l i lợi ích, tìm được gia đình thay thế cho những trẻ em không gặp may mắn, giúp cho những trẻ em này có được sự chăm sóc nuôi dưỡng, không phải đơn độc bước vào đời.
Nuôi con nuôi cũng giúp t o ra niềm vui, niềm hy vọng cho những cặp vợ chồng không có con, hay những người độc th n mong muốn có con. Quan hệ nuôi con nuôi vì các lý do đó mà đã tồn t i từ trước đến nay. Trước đ y, khi xã hội còn khép kín, chưa mở cửa, việc giao thương giữa các quốc gia bị h n chế rất nhiều, gần như là không diễn ra, cho nên các quan hệ xã hội chỉ bó hẹp trong ph m vi quốc gia. Quan hệ nuôi con nuôi cũng vì thế mà chỉ tồn t i giữa các công d n trong cùng một quốc gia.
Ngày nay, khi mà tư tưởng bế quan tỏa cảng đã trở nên lỗi thời, công d n của mỗi quốc gia không chỉ tham gia các quan hệ xã hội khép kín trong ph m vi quốc gia mình mà còn hướng tới các quan hệ có tính quốc tế. Việc công d n của các quốc gia khác nhau xác lập các quan hệ xã hội với nhau dần trở nên phổ biến và bình thường. Cũng từ đó quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài xuất hiện, và khi xã hội ngày càng phát triển, công d n ở các quốc gia khác nhau trở nên xích l i gần nhau hơn. Các quan hệ có yếu tố nước ngoài càng có nhiều điều kiện phát triển, quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng nằm trong khuynh hướng đó.
Cũng theo đà phát triển đó, pháp luật cũng có yêu cầu phải kịp thời điều chỉnh các quan hệ này, pháp luật hiện nay bảo vệ quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài bằng Luật Nuôi con nuôi 2010. Và theo quy định t i khoản 5 Điều 3 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau thường trú ở Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên định cư ở nước ngoài. Trên cơ sở đó, Điều 28 Lụât Nuôi con nuôi năm 2010 đã quy định rõ các trường hợp được coi là nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, bao gồm: 7 - Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi. - Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau đây: + Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi; + Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi; + Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi; + Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi; + Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm.
- Công dân Việt Nam thường trú ở trong nước nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi. - Người nước ngoài thường trú ở Việt Nam nhận con nuôi ở Việt Nam Như vậy, theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là việc nuôi con nuôi được thực hiện giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài, giữa người nước ngoài với nhau cùng thường trú t i Việt Nam, giữa công dân Việt Nam với nhau mà một bên hoặc cả hai bên định cư ở nước ngoài. Quy định này phù hợp với quy định của Công ước Lahay năm 1993, theo đó, việc nuôi con nuôi được thực hiện giữa một người hoặc hai người là vợ chồng cùng thường trú ở nước ngoài xin nhận một trẻ em thường trú ở nước khác làm con nuôi, có sự di chuyển trẻ em từ nước này sang nước khác, và thông lệ của một số nước trên thế giới coi việc nhận một trẻ em có quốc tịch khác làm con nuôi là nuôi con nuôi quốc tế. Khái niệm qu n nhà nước v nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài Để nghiên cứu khái niệm quản lý nhà nước về nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài, trước hết cần làm rõ khái niệm “quản lý” và “quản lý nhà nước”.
Thuật ngữ 8 “quản lý” thường được hiểu theo những cách khác nhau tuỳ theo góc độ khoa học khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học xã hội và khoa học tự nhiên. Mỗi lĩnh vực khoa học có định nghĩa về quản lý dưới góc độ riêng của mình và nó phát triển ngày càng s u rộng trong mọi ho t động của đời sống xã hội. Theo quan niệm của các nhà khoa học nghiên cứu về quản lý hiện nay: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi ho t động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đ t tới mục đích đã đề ra và đúng với ý trí của người quản lý.
Theo cách hiểu này thì quản lý là việc tổ chức, chỉ đ o các ho t động của xã hội nhằm đ t được một mục đích của người quản lý. Theo cách tiếp cận này, quản lý đã nói rõ lên cách thức quản lý và mục đích quản lý. Như vậy, theo cách hiểu chung nhất thì quản lý là sự tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm đ t được mục tiêu quản lý. Việc tác động theo cách nào còn tuỳ thuộc vào các góc độ khoa học khác nhau ,các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu.
Vậy còn quản lý nhà nước là gì, theo Giáo trình quản lý hành chính nhà nước: “Quản lý nhà nước là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ tổ quốc XHCN”. Như vậy, quản lý nhà nước là ho t động mang tính chất quyền lực nhà nước, được sửa dụng quyền lực nhà nước để điều chỉnh các quan hệ xã hội. Quản lý nhà nước được xem là một ho t động chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội và có thể xem là ho t động chức năng đặc biệt. Quản lý nhà nước được hiểu theo hai nghĩa.
Theo nghĩa rộng: quản lý nhà nước là toàn bộ ho t động của bộ máy nhà nước, từ ho t động lập pháp, ho t động hành pháp, đến ho t động tư pháp. 9 Theo nghĩa hẹp: quản lý nhà nước chỉ bao gồm ho t động hành pháp. Quản lý nhà nước được đề cập trong đề tài này là khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng; quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ các ho t động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đ o trực tiếp ho t động của đối tượng bị quản lý và vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước.