CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẦU TƯ VÀO CÁC KHU CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN MỘT TỈNH 1. Khái quát chung về khu công nghiệp 1. Khái niệm khu công nghiệp Khu công nghiệp đã hình thành và phát triển ở các nước tư bản vào những năm cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX.
Cho đến những năm 50 của thế kỷ XX thì các KCN thực sự bùng nổ và phổ biến ở các nước như Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore,… Tại Việt Nam, KCN Biên Hòa I (tên gọi trước đây là Khu kỹ nghệ Biên Hòa) được thành lập năm 1963 là khu công nghiệp đầu tiên của Việt Nam. Tính đến hết năm 2022, Việt Nam có 291 KCN đang hoạt động trên khắp cả nước với tỷ lệ lấp đầy các KCN trên khoảng 80% (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, 2022). Từ khi hình thành đến nay, đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về KCN. Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên Hợp Quốc (UNIDO), trong tài liệu khu chế xuất tại các nước đang phát triển (Export Processing Zone in Developing Countries) công bố năm 1990 định nghĩa “KCN là khu vực tương đối nhỏ, phân cách về mặt địa lý trong một quốc gia nhằm mục tiêu thu hút đầu tư vào các ngành công nghiệp hướng về xuất khẩu bằng cách cung cấp cho các ngành công nghiệp này những điều kiện về đầu tư và mậu dịch thuận lợi đặc biệt so với phần lãnh thổ còn lại của nước chủ nhà.
Trong đó đặc biệt là khu chế xuất cho phép nhập khẩu hàng hóa dùng cho sản xuất để xuất khẩu miễn thuế”. Tại Việt Nam, theo khoản 16 Điều 3 Luật Đầu tư 2020, KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và cung ứng dịch vụ cho sản xuất công nghiệp. Căn cứ theo Nghị định số 82/2018/NĐ-CP quy định về quản lý KCN và khu kinh tế thì “KCN là khu vực có ranh giới địa lý xác định, chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, được thành lập theo điều kiện, trình tự và thủ tục quy định tại Nghị định này. KCN gồm nhiều loại hình khác nhau, bao gồm khu chế xuất, khu công nghiệp hỗ trợ, khu công nghiệp sinh thái”.
7 Như vậy, KCN của Việt Nam có thể được hiểu là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa công nghiệp, có thể dùng để phục vụ cho thị trường trong nước hoặc có thể phục vụ mục tiêu xuất khẩu. KCN là nơi có ranh giới địa lý riêng biệt, không có dân cư sinh sống. KCN tập trung để nhằm giải quyết tốt hơn vấn đề hạ tầng và ô nhiễm môi trường, do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính phủ thành lập và được hưởng những ưu đãi đặc biệt về sản xuất, xuất khẩu hàng hóa, cơ sở hạ tầng huy động lực lượng lao động. Theo quan niệm này, các khu chế xuất (chuyên sản xuất hàng hóa xuất khẩu và dịch vụ cho sản xuất hàng hóa xuất khẩu), khu công nghệ cao (tập trung các doanh nghiệp có công nghệ cao hoặc doanh nghiệp dịch vụ cho các doanh nghiệp có công nghệ cao) chỉ là hình thái đặc thủ của KCN.
Đặc điểm của khu công nghiệp Các KCN nói chung có thể có sự khác nhau về quy mô, địa điểm, thẩm quyền thành lập và phương thức xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng nói chung các KCN có những đặc điểm chủ yếu sau đây. Về tính chất hoạt động: KCN là nơi tập trung các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp và các doanh nghiệp cung cấp các dịch vụ mà không có dân cư. KCN là nơi xây dựng để thu hút doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghiệp hoặc các doanh nghiệp dịch vụ gắn liền với sản xuất công nghiệp (Phạm Kim Thư, 2016). Theo Nghị định số 28/2008/NĐ-CP thì doanh nghiệp KCN có thể là các doanh nghiệp Việt Nam, thuộc mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài hoặc các bên tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh, các doanh nghiệp này được quyền kinh doanh trong các lĩnh vực cụ thể sau: Xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng, sản xuất gia công, lắp ráp các sản phẩm công nghiệp để xuất khẩu và tiêu dùng ở trong nước, phát triển và kinh doanh bằng sáng chế, bí quyết kỹ thuật, quy trình công nghệ, nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm và tạo ra sản phẩm mới, các dịch vụ hỗ trợ sản xuất công nghiệp.
Về cơ sở hạ tầng kỹ thuật: Các KCN đều xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh như đường sá, hệ thống điện nước, điện thoại. Thông thường, việc phát triển cơ sở hạ tầng trong KCN do 8 một công ty xã hội khác phát triển cơ sở hạ tầng đảm nhiệm (Ngô Tiến Dũng, 2014). Ở Việt Nam, công ty này là các doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc doanh nghiệp trong nước thực hiện. Các công ty phát triển cơ sở hạ tầng KCN sẽ xây dựng các kết cấu hạ tầng, sau đó, được phép cho các doanh nghiệp khác thuê lại.
KCN khi được xây dựng đã bao gồm hệ thống cơ sở hạ tầng trong và ngoài KCN. Khi doanh nghiệp đến đầu tư có thể thuê lại phần diện tích cần thiết mà doanh nghiệp cần để sản xuất kinh doanh mà không mất thời gian và chi phí cho việc xin giấy phép xây dựng công trình, chi phí lắp đặt hạ tầng. Đồng thời, doanh nghiệp có thể giảm thời gian xây dựng và vận hành ngay trên cơ sở hạ tầng sẵn có. Về tổ chức quản lý: Các KCN thường được đặt dưới sự quản lý của một cơ quan quản lý nhà nước chuyên biệt.
Chẳng hạn, tại Trung Quốc, Luật Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài của nước này đã phân cấp thẩm quyền quản lý các dự án đầu tư vào KCN cho Ban quản lý KCN (Nguyễn Thị Vân Hương, 2022). Ở Việt Nam, theo quy định của Nghị định 82/2018/NĐ-CP, các KCN thành lập hệ thống Ban quản lý KCN cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung trong để trực tiếp thực hiện các chức năng quản lý nhà nước đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh trong KCN. Các cơ quan quản lý nhà nước khác tham gia vào nhiệm vụ quản lý tại các KCN như: Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Công thương, Bộ Xây dựng,… Mọi hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh bên trong KCN không chỉ được điều chỉnh bởi quy định pháp luật hiện hành, mà còn phải tuân thủ quy chế pháp lý riêng. Về chính sách ưu đãi: KCN có chính sách kinh tế ưu đãi đặc thù nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, hấp dẫn, cho phép các nhà đầu tư nước ngoài sử dụng những phạm vi đất đai nhất định trong khu để thành lập các nhà máy, xí nghiệp, các cơ sở kinh tế, dịch vụ với những ưu đãi về thủ tục xin phép và thuế đất (Vũ Thị Anh, 2014).
KCN không phải là khu vực được thành lập tự phát mà được thành lập theo quy định của Chính phủ trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt. Để phát triển các KCN, Nhà nước phải thiết lập môi trường đầu tư thuận lợi, bao gồm hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ, hệ thống cơ chế 9 chính sách hoàn thiện. Chính vì vậy, Nhà nước phải xây dựng quy hoạch phát triển các KCN, thẩm định kỹ càng trước khi thành lập và triển khai xây dựng. Vai trò của khu công nghiệp KCN có những đóng góp quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia.
Vai trò của KCN được thể hiện trên những điểm như sau: Thứ nhất, KCN là nơi thu hút nguồn vốn đầu tư lớn trong và ngoài nước để phát triển nền kinh tế. KCN với đặc điểm là nơi được đầu tư cơ sở hạ tầng hoàn chỉnh, đồng bộ, hiện đại và thu hút các nhà đầu tư cùng đầu tư trên một vùng lãnh thổ, do vậy, đó là nơi tập trung và kết hợp sức mạnh nguồn vốn trong và ngoài nước. Với quy chế quản lý thống nhất và các chính sách ưu đãi, các KCN đã tạo ra một môi trường đầu tư kinh doanh thuận lợi, có sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư nước ngoài (Lê Tuấn Dũng, 2009). Hơn nữa, việc phát triển các KCN cũng phù hợp với chiến lược kinh doanh của các tập đoàn, công ty đa quốc gia trong việc mở rộng phạm vi hoạt động trên cơ sở tranh thủ ưu đãi thuế quan từ phía nước chủ nhà, tiết kiệm chi phí, tăng lợi nhuận và khai thác thị trưởng mới ở các nước đang phát triển (Ngô Sỹ Bích, 2015).
Do vậy, KCN giúp cho việc tăng cường huy động vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho phát triển kinh tế - xã hội và là đầu mối quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn đầu tư trong nước và là giải pháp hữu hiệu nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Thứ hai, phát triển KCN góp phần đẩy mạnh xuất khẩu và tăng nguồn thu ngân sách. Sự phát triển các KCN có tác động rất lớn đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hướng về xuất khẩu. Hàng hóa sản xuất ra từ các KCN chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng hàng hóa xuất khẩu của địa phương và của cả nước (Nguyễn Quốc Việt, 2014).
Khi các doanh nghiệp đi vào sản xuất ổn định, có hiệu quả thì nguồn thu ngoại tệ bắt đầu tăng lên nhờ hoạt động xuất khẩu của các doanh nghiệp KCN. Ngoài ra, hình thức xuất khẩu tại chỗ thông qua việc cung ứng nguyên vật liệu của các doanh nghiệp trong nước cho các doanh nghiệp chế xuất hoạt động trong KCN và việc một số doanh nghiệp chế xuất tổ chức gia công một số chi tiết, phụ tùng, một số công đoạn tại các doanh nghiệp trong nước cũng góp phần vào quá trình nội địa hóa trong cơ cấu giá trị sản phẩm của các 10 doanh nghiệp (Trần Duy Đông, 2015). Ngoài ra, các KCN cũng đóng góp đáng kể vào việc tăng nguồn thu ngân sách cho các địa phương và đóng góp chung cho nguồn thu của quốc gia. Thứ ba, phát triển các KCN thúc đẩy các ngành công nghiệp phụ trợ phát triển và doanh nghiệp trong nước tiếp cận công nghệ tiên tiến, phương pháp quản lý hiện đại.