đặt vấn đề cần kiểm soát toàn bộ những chất khí thải độc hại có nguy cơ làm ô nhiễm môi trường ảnh hưởng đến con người và sinh vật, 14 thì kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tầm xa nhấn mạnh đến việc kiểm soát các chất khí thải nhà kính nhằm bảo vệ tầng ozon, ứng phó với biến đổi khí hậu. Thứ tư, căn cứ vài phạm vi của ô nhiễm môi trường không khí, ô nhiễm môi trường không khí gồm ô nhiễm môi trường không khí trong phạm vi một cộng đồng, một địa phương, một vùng, một quốc gia, một khu vực hoặc ô nhiễm môi trường không khí toàn cầu,… 1. Khái niệm, đặc điểm cơ bản của kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí Kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí là tổng thể các hoạt động phòng ngừa, dự báo; theo dõi, kiểm tra, giám sát, phát hiện, những tác động đến môi trường, hiện trạng môi trường, sự biến đổi của môi trường so với quy chuẩn kỹ thuật môi trường; ngăn chặn; xử lý các tác động tiêu cực đến môi trường của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức, cá nhân chủ nguồn thải cũng như các chủ thể khác nhằm đảm bảo cho môi trường được trong lành, sạch đẹp. Đặc điểm của kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí gồm: Thứ nhất, phải kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí tại nguồn.
Môi trường không khí mang tính khuếch tán, lan truyền nên khi môi trường không khí bị ô nhiễm thường rất khó bị phát hiện và để kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí không hề đơn giản. Do vậy, phải kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ngay từ nguồn thải, kiểm soát trước khi khí thải thoát ra ngoài môi trường không khí góp phần phòng ngừa ô nhiễm môi trường không khí. Thứ hai, kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí cần phải có sự liên kết, hợp tác giữa các địa phương, các vùng và giữa các quốc gia ở các cấp độ song phương, khu vực và toàn cầu. Thứ ba, khẳng định trách nhiệm hàng đầu của nhà nước và các chủ nguồn thải trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
Bởi không khí nó không thuộc quyền sở hữu riêng của bất kỳ một cá nhân, tổ chức nào mà không khí thuộc sở hữu chung của tất cả mọi người. Do không gắn cụ thể quyền sở hữu với riêng cá nhân, tổ chức cụ thể nào nên việc kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí ít được quan tâm hơn các nguồn tài nguyên khác. Thứ tư, nhấn mạnh ý nghĩa, giá trị về mặt sức khỏe, sinh tồn của môi trường không khí đối với con người trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Thứ năm, tính chủ quan, bị động trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí.
Thường tác động đến sức khỏe, tính mạng của con người động thực vật, tuy nhiên nó không thể hiện ở mức độ cấp tính ngay mà ngấm dần. Thứ sáu, ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại trong kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. Vai trò của hoạt động kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí Ô nhiễm không khí không phải là vấn đề mới được phát hiện. Nó đã được đề cập cách đây hàng thế kỉ song mãi đến thế kỉ XX, đặc biệt là một số thập kỉ gần đây, khi xảy ra các thảm họa khủng khiếp do ô nhiễm không khí gây ra, con người mới bắt đầu quan tâm hom đến nó và đưa ra các biện pháp để phòng ngừa.
Thực tiễn phát triển cho thấy ô nhiễm môi trường nói chung, ô nhiễm môi trường không khí nói riêng là không tránh khỏi, sự phát triển có thể nói là nhanh một cách khá tùy tiện, thiếu chiến lược bền vững; phong trào công nghiệp hóa, hiện đại hóa; sức ép của lợi nhuận, tiết giảm chi phí và lối sống tùy tiện của văn hóa tiểu nông, đặc biệt động lực lợi nhuận đã thúc đẩy các chủ thể khai thác vô kế hoạch và không thương tiếc các tài nguyên thiên nhiên, trốn tránh việc xử lý hợp lý các khí thải độc hại;. Ví dụ một số nhà máy có nguy cơ gây ô nhiễm cao đã vào Việt Nam do các quốc gia khác không chấp nhận. Điều đó đã tàn phá môi trường sinh thái, gây ô nhiễm môi trường trầm trọng. Tuy nhiên không khí là thành phần môi trường không được xác định thuộc quyền khai thác hay sử dụng của chủ thể cụ thể nào.
Nó thuộc quyền sử dụng chung cho mọi tổ chức, cá nhân. Vì thế, môi trường không khí thường ít được quan tâm do nó không gắn với lợi ích cụ thể, rõ ràng của một tổ chức, cá nhân nào. Thêm nữa, giá trị kinh tế của môi trường không khí không dễ nhìn thấy mặc dù nó là yếu tố không thể thiếu trong mọi hoạt động sản xuất. Với các thành phần môi trường khác như rừng, nước, khoáng sản.
người ta có thể nhìn thấy ngay lợi ích kinh tế của nó và chú ý bảo vệ. Tuy vậy, do rất quan trọng đối với sự sinh tồn và phát triển của tất cả các sinh vật trên trái đất, những tác động tiêu cực do tình hạng ô nhiễm không khí gây ra thường chủ yếu là đối với sức khoẻ con người, đối với chất lượng môi trường sống, nên hoạt động kiểm soát ô nhiễm không khí là rất cần thiết để ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng gây ô nhiễm không khí và tiến tới cải thiện chất lượng không khí. Để kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí được hiệu quả, có thể sử dụng nhiều công cụ khác nhau, như: công cụ tuyên truyền, giáo dục; công cụ khoa học công nghệ; công cụ kinh tế,… nhưng những công cụ này cũng phải được cụ thể hóa bằng pháp luật. Tóm lại, dưới góc độ pháp lý, việc thực hiện kiểm soát ô nhiễm không khí đòi hỏi sự nỗ lực chung của toàn dân.
Đó không chỉ là những hoạt động tuân thủ pháp luật nhằm kiểm soát tình trạng ô nhiễm không khí của các cơ quan nhà nước mà còn là ý thức tự giác thực hiện tự kiểm soát ô nhiễm môi trường của các tổ chức, cá nhân, đặc biệt là các chủ thể tiến hành những hoạt động được xác định là nguồn gây ô nhiễm chủ yểu (các hoạt động công nghiệp). Khái quát chung về pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí 2. Khái niệm pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí Luật bảo vệ môi trường là công cụ pháp lý quan trọng nhằm giữ gìn, bảo vệ môi trường phục vụ cho phát triển bền vững, bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành của toàn thể nhân dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013. Đây là một lĩnh vực pháp luật tương đối mới không chỉ đối với hệ thống pháp luật Việt Nam mà còn cả đối với hệ thống pháp luật của nhiều nước đang phát triển khác.
Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển nhanh chóng của tình hình kinh tế, xã hội cũng như các vấn đề môi trường nảy sinh thời gian qua như tác động của biến đổi khí hậu, an ninh môi trường, an ninh sinh thái đòi hỏi pháp luật về bảo vệ môi trường phải được cập nhật, bổ sung với các giải pháp đồng bộ, đủ mạnh, có tính đột phá cho nên mặc dù ra đời muộn hơn so với các ngành luật khác nhưng lại có sự phát triển rất nhanh do nhu cầu bảo vệ môi trường được đặt ra cấp bách. Đến nay, không chỉ Việt Nam mà hầu hết các nước đều đã và đang xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường theo hướng ngày càng hoàn chỉnh và đầy đủ, trong đó có các quy định về bảo vệ môi trường không khí. Pháp luật là hệ thống những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị và là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội phát triển phù hợp với lợi ích của giai cấp mình. Do đó, pháp luật là khuôn mẫu, chuẩn mực để hướng dẫn cách cư xử cho mọi người trong xã hội, giúp cho mọi chủ thể trong xã hội đều có thể tìm được cách cư xử phù hợp với ý chí, mong muốn của nhà nước và giúp nhà nước quản lý xã hội, thiết lập và giữ gìn trật tự xãhội.
Các lĩnh vực đời sống xã hội mà pháp luật điều chỉnh bao trùm rộng khắp, trong đó có môi trường. Cùng với khái niệm môi trường và không khí đã nêu ở trên ta có thể suy ra định nghĩa pháp luật về bảo vệ môi trường không khí như sau: “Pháp luật về bảo vệ môi trường không khí là tổng hợp các quy phạm pháp luật, các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình các chủ thể sử dụng hoặc tác động đến môi trường không khí hoặc các quan hệ giữa các chủ thể và môi trường không khí trên cơ sở kết hợp các phương pháp điều chỉnh khác nhau nhằm bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường không khí vì lợi ích của thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau”. Pháp luật đã quy định một hệ thống các quy tắc để bảo vệ môi trường bằng việc thể chế hóa các chính sách, kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo vệ môi trường và quy định các biện pháp, nhân lực,. để đảm bảo thựchiện các chính sách, kế 17 hoạch đó.
Chính vì thế, pháp luật về bảo vệ môi trường đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản lý và bảo vệ môi trường. Cơ sở ban hành pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí 2. Cơ sở kinh tế Giá trị kinh tế của môi trường không khí không dễ nhìn thấy mặc dù nó là yếu tố không thể thiếu trong hoạt động sản xuất. Khi lợi ích kinh tế không hiển hiện thì việc thiếu quan tâm, bảo vệ nó cũng là điều dễ hiểu.
Tuy nhiên từ các mục tiêu của kịch bản tăng trưởng kinh tế do Thủ tướng Phạm Minh Chính đề ra tại Kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa XV có thể thấy nếu như trình độ công nghệ sản xuất, cơ cấu sản xuất và trình độ quản lý sản xuất, quản lý môi trường không được cải tiến thì sự tăng trưởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tài nguyên, năng lượng, dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tạo ra sự gia tăng các loại chất thải gây sức ép lên môi trường nói chung và môi trường không khí nói riêng.