Tổng quan luận án

Công trình khoa học được giới thiệu là luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam", do nghiên cứu sinh Bùi Thị Long thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, bảo vệ năm 2022. Luận án thuộc chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật, mã số 938 01 06, dưới sự hướng dẫn khoa học của tập thể cán bộ hướng dẫn gồm Trịnh Đức Thảo và Lê Thanh Bình.

Về tính cấp thiết của đề tài, tác giả phân tích sự biến đổi của không gian mạng trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, hướng tới nền kinh tế số và xã hội số. Dẫn liệu lịch sử cho thấy tỷ trọng thông tin truyền thông hai chiều truyền tải qua mạng internet tăng trưởng nhanh chóng: năm 1993 chỉ chiếm 1%, đến năm 2000 đạt 51% và đến năm 2007 đã vượt mức 97%. Sự phát triển của các công nghệ như internet vạn vật, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, dữ liệu nhanh làm thay đổi căn bản không gian mạng, song cũng làm phát sinh tội phạm công nghệ thông tin và viễn thông hoạt động có tính chất xuyên quốc gia.

Tại Việt Nam, các chủ trương của Đảng và quy định của Nhà nước về bảo vệ an ninh mạng được hình thành có hệ thống qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chỉ thị số 28-CT/TW ngày 16/9/2013 của Ban Bí thư về tăng cường công tác bảo đảm an toàn thông tin mạng, Chỉ thị số 15/CT-TTg ngày 17/6/2014 của Thủ tướng Chính phủ, Văn kiện Đại hội XII và Đại hội XIII của Đảng, Điều 11 Hiến pháp năm 2013, Luật An toàn thông tin mạng năm 2015 và Luật An ninh mạng năm 2018.

Khoảng trống nghiên cứu được chỉ ra xuất phát từ thực trạng: dù bước đầu đã hình thành thể chế, việc thực hiện pháp luật về an ninh mạng tại Việt Nam còn tồn tại hạn chế. Nhận thức của một số chủ thể chưa đồng đều; việc tuân thủ, chấp hành các quy định pháp luật chưa nghiêm; kinh nghiệm của các chủ thể áp dụng pháp luật chưa nhiều; đầu tư hạ tầng mạng còn dàn trải; quan hệ phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp trong và ngoài nước còn hạn chế; các công trình nghiên cứu chuyên sâu làm rõ cơ sở lý luận về thực hiện pháp luật trong lĩnh vực an ninh mạng chưa nhiều.

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về an ninh mạng, đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam thời gian qua, từ đó đề xuất quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng hiện nay. Luận án xác định bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Một là, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, rút ra các giá trị có thể kế thừa và xác định các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu.
  2. Hai là, phân tích cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về an ninh mạng: xây dựng khái niệm, xác định đặc điểm, vai trò, hình thức và điều kiện bảo đảm; khảo cứu kinh nghiệm của một số quốc gia nhằm rút ra giá trị tham khảo.
  3. Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về an ninh mạng tại Việt Nam; chỉ rõ ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
  4. Bốn là, luận chứng cơ sở khoa học của các quan điểm và đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam hiện nay.

Về giả thuyết nghiên cứu, tác giả khẳng định việc thực hiện pháp luật về an ninh mạng có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể. Dù Việt Nam đã có khung pháp luật nhưng thực tiễn thi hành còn nhiều bất cập, vi phạm an ninh mạng diễn biến phức tạp và tinh vi. Do đó, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao nhận thức và trách nhiệm, tăng cường nguồn lực bảo đảm và đẩy mạnh hợp tác quốc tế. Luận án đặt ra một câu hỏi nghiên cứu lớn: "Làm thế nào để bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam?" cùng ba câu hỏi nghiên cứu cụ thể:

  • Câu hỏi 1: Cơ sở lý luận cho việc thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam là gì?
  • Câu hỏi 2: Thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam hiện nay có ưu điểm, hạn chế gì? Nguyên nhân nào dẫn đến những ưu điểm, hạn chế đó?
  • Câu hỏi 3: Cần có những quan điểm và giải pháp nào để bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam hiện nay?

Đối tượng nghiên cứu là cơ sở lý luận và thực tiễn của thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam dưới góc độ của ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật.

Phạm vi nghiên cứu được xác định:

  • Về nội dung: Không nghiên cứu toàn bộ mọi khía cạnh mà tập trung vào 04 nhóm nội dung điều chỉnh chủ yếu: quy định pháp luật về bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng; quy định pháp luật về bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; quy định pháp luật về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; quy định pháp luật về chế tài xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng.
  • Về không gian: Giới hạn trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
  • Về thời gian: Các dữ liệu, số liệu khảo sát thực trạng được thu thập và phân tích chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2021.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan nghiên cứu của luận án được thực hiện toàn diện qua việc phân loại và phân tích các công trình học thuật trong nước và quốc tế.

Các công trình khoa học trong nước được chia thành các nhóm nội dung:

  • Nhóm nghiên cứu về an ninh mạng, kỹ thuật và an ninh thông tin: Đề tài cấp nhà nước của Vũ Quốc Khánh về hệ thống theo dõi, giám sát an toàn mạng theo mô hình tập trung; Sách trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông Việt Nam các năm 2018, 2019, 2020 của Bộ Thông tin và Truyền thông cung cấp số liệu thực trạng an toàn thông tin, mạng lưới ứng cứu sự cố và hệ thống chia sẻ giám sát an toàn thông tin phục vụ chính phủ điện tử; Sách Trắng về Quốc phòng Việt Nam của Bộ Quốc phòng ghi nhận việc thành lập Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng năm 2017; các công trình của Tạ Ngọc Tấn về an ninh phi truyền thống; Giáo trình an ninh không gian mạng của Trần Đại Quang, Phạm Ngọc Lãng, Nguyễn Ngọc Cương, Nguyễn Trường Thắng; cuốn sách "Không gian mạng - Tương lai và hành động" của Trần Đại Quang; nghiên cứu của Nguyễn Thị Lan Hương về tác động của mạng xã hội đối với lối sống thanh thiếu niên; bài viết của Đoàn Minh Huấn và Nguyễn Linh Khiếu, Hảo Linh, Tô Lâm.
  • Nhóm nghiên cứu về pháp luật an ninh mạng và tội phạm mạng: Đề tài cấp bộ của Nguyễn Hòa Bình về tội phạm công nghệ cao; công trình của Trần Văn Hòa về an toàn thông tin và phòng chống tội phạm công nghệ cao; nghiên cứu của Trịnh Tiến Việt về pháp luật hình sự trước thách thức an ninh phi truyền thống; sách của Nguyễn Việt Lâm về chính sách an ninh mạng trong quan hệ quốc tế; các luận văn thạc sĩ của Đỗ Thị Thúy Nga (2012), Nguyễn Văn Kiên, Ngô Hương Giang, Trần Kiên, Nguyễn Thị Thu Hiền, Hoàng Hiện.
  • Nhóm nghiên cứu về lý luận thực hiện pháp luật và thực hiện pháp luật về an ninh mạng: Giáo trình và sách chuyên khảo của Nguyễn Văn Mạnh, Nguyễn Minh Đoan, Hoàng Thị Kim Quế; các công trình chuyên sâu về ứng dụng nghiệp vụ và thực thi pháp luật của Nguyễn Ngọc Cương, Nguyễn Tuấn Anh, Hoàng Thành Nam, Trần Mạnh Hùng; luận văn của Trần Thị Hằng (2016); luận án của Trần Doãn Tiến; báo cáo của Dorothea Czarnecki; bài viết của Nguyễn Minh Phong và Nguyễn Trần Minh Trí; Báo cáo công tác phòng, chống tội phạm của Bộ Công an các năm 2018, 2019; Kỷ yếu Hội thảo an toàn bảo mật năm 2017; bài viết của Nguyễn Văn Tỵ.

Các công trình khoa học quốc tế được khảo cứu bao gồm: nghiên cứu của Julien Nocetti về địa chính trị của xung đột trên mạng; Peter Townsendp về mặt trái của công nghệ; Marie-Helen Maras về giám định máy tính, tội phạm mạng và chứng cứ pháp lý; Triệu Anh Ba về chiến lược an ninh mạng của Nhật Bản giai đoạn 2001-2017; cuốn "Lý luận về nhà nước và pháp luật" của Bộ Đại học và trung học chuyên nghiệp Liên Xô (Chương XIII về áp dụng quy phạm pháp luật xã hội chủ nghĩa); sách của Kulcsar Kalman về cơ sở xã hội của pháp luật; D.A. Kerimov về yếu tố tâm lý trong thực thi pháp luật; Jason Healey về xung đột trong không gian mạng giai đoạn 1986-2012; Edward Wilding về quản lý rủi ro thông tin; Anthony Reyes, Richard Britton, Kevin O’Shea, Jim Steel về điều tra tội phạm mạng; Ben Buchanan về tình thế lưỡng nan an ninh mạng; bài viết của Phạm Long Phương về quản lý thông tin mạng.

Nhóm nghiên cứu Tác giả, cơ quan công bố tiêu biểu Trọng tâm nội dung
An ninh mạng và an ninh phi truyền thống Vũ Quốc Khánh; Tạ Ngọc Tấn; Trần Đại Quang và cộng sự; Bộ Thông tin và Truyền thông; Bộ Quốc phòng. Khái niệm không gian mạng; an ninh phi truyền thống; chiến tranh thông tin; hệ thống kỹ thuật giám sát tập trung.
Pháp luật hình sự và tội phạm công nghệ cao Nguyễn Hòa Bình; Trần Văn Hòa; Trịnh Tiến Việt; Nguyễn Việt Lâm; Ngô Hương Giang. Quy định xử lý tội phạm sử dụng công nghệ cao; dẫn độ chứng cứ điện tử; chính sách quốc tế về an ninh mạng.
Lý luận thực hiện pháp luật chung Bộ Đại học và THCN Liên Xô; Kulcsar Kalman; D.A. Kerimov; Nguyễn Văn Mạnh; Nguyễn Minh Đoan; Hoàng Thị Kim Quế. Khái niệm, cơ cấu, các hình thức thực hiện pháp luật (tuân thủ, thi hành, sử dụng, áp dụng); các yếu tố xã hội, tâm lý tác động.
Thực hiện pháp luật về an ninh mạng Nguyễn Ngọc Cương; Trần Mạnh Hùng; Hoàng Thành Nam; Dorothea Czarnecki; Marie-Helen Maras; Ben Buchanan; Jason Healey. Thực tiễn điều tra tội phạm mạng; bảo vệ người yếu thế; xung đột an ninh mạng quốc tế; thực trạng áp dụng pháp luật.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các công trình đã công bố trong và ngoài nước chủ yếu tiếp cận vấn đề an ninh mạng dưới góc độ kỹ thuật công nghệ thông tin, điều tra hình sự, quan hệ quốc tế hoặc chính trị học. Trong khoa học pháp lý tại Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu, có hệ thống và toàn diện về cơ sở lý luận cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật về an ninh mạng dưới góc độ của ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật ở cấp độ luận án tiến sĩ. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống này nhằm cung cấp khung lý thuyết hoàn chỉnh và đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật an ninh mạng tại Việt Nam.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách, pháp luật của Nhà nước về an ninh quốc gia, an ninh mạng và thực hiện pháp luật trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Khung khái niệm và phân tích của luận án bao gồm:

  • Khái niệm an ninh mạng: Dẫn chiếu quy định tại Điều 2 Luật An ninh mạng năm 2018: "An ninh mạng là sự bảo đảm hoạt động trên không gian mạng không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân." Khách thể bảo vệ bao gồm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, chế độ chính trị, trật tự xã hội, bí mật nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân.
  • Khái niệm pháp luật về an ninh mạng: Được luận án xác định là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng.
  • Khái niệm thực hiện pháp luật về an ninh mạng: Là toàn bộ các hoạt động có mục đích của các chủ thể nhằm hiện thực hóa các quy định của pháp luật về an ninh mạng thành hành vi thực tế, hợp pháp trong đời sống xã hội.
  • Bốn hình thức thực hiện pháp luật: Tuân thủ pháp luật (kiềm chế không thực hiện các hành vi bị cấm), Thi hành pháp luật (chủ động thực hiện nghĩa vụ pháp lý), Sử dụng pháp luật (thực hiện các quyền pháp lý được quy định) và Áp dụng pháp luật (hoạt động mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành).

Phương pháp nghiên cứu được triển khai theo hướng định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê thứ cấp:

  • Phương pháp phân tích: Được áp dụng xuyên suốt ở tất cả các chương nhằm làm rõ nội hàm lý luận, phân tích từng nhóm quy phạm pháp luật, đánh giá thực trạng các hình thức thực hiện và luận chứng cơ sở của các đề xuất giải pháp.
  • Phương pháp tổng hợp: Áp dụng tại Chương 1, Chương 2 và Chương 3 để đúc kết tình hình nghiên cứu, khái quát các nhận định lý thuyết, đồng thời chỉ ra các ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân trong thực tiễn.
  • Phương pháp thống kê: Được sử dụng tại Chương 1 và Chương 3 nhằm hệ thống hóa tài liệu, dữ liệu theo phương thức thu thập gián tiếp từ các báo cáo chính thức của cơ quan nhà nước (Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông), số liệu công bố từ các công trình khoa học và phương tiện truyền thông.
  • Phương pháp so sánh: Được vận dụng ở Chương 2 để so sánh pháp luật và kinh nghiệm thực thi của các quốc gia (Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, Nga, Singapore); vận dụng ở Chương 3 để đối chiếu sự chuyển biến của hệ thống quy phạm pháp luật an ninh mạng Việt Nam qua các thời kỳ.
  • Phương pháp hỏi ý kiến chuyên gia: Sử dụng tại Chương 3 nhằm thu thập nhận định chuyên môn, làm rõ các bất cập trong thực tiễn thi hành pháp luật.

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam từ năm 2004 đến năm 2020 (Luật An ninh quốc gia 2004, Luật Giao dịch điện tử 2005, Luật Công nghệ thông tin 2006, Luật An toàn thông tin mạng 2015, Bộ luật Hình sự 2015, Luật An ninh mạng 2018; các Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, Nghị định số 85/2016/NĐ-CP, Nghị định số 142/2016/NĐ-CP, Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, Nghị định số 91/2020/NĐ-CP); các văn bản quốc tế như Công ước Budapest về tội phạm mạng năm 2001, các đạo luật của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc; dữ liệu từ Sách trắng Công nghệ thông tin và Truyền thông (2018-2020) và Báo cáo của Bộ Công an (2018-2019).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước thành hai mảng lớn: các công trình về an ninh mạng, pháp luật an ninh mạng và các công trình về lý luận thực hiện pháp luật, thực hiện pháp luật về an ninh mạng.

Luận án chỉ ra các phát hiện chính từ tổng quan tài liệu:

  • Về nội dung, các nghiên cứu trong nước và quốc tế đã nhận diện sớm các nguy cơ, tác hại của hành vi xâm phạm an ninh mạng, khẳng định sự cần thiết phải quản lý không gian mạng bằng công cụ pháp luật. Các nghiên cứu quốc tế đã làm rõ sự hình thành chiến lược an ninh mạng ở các nước như Nhật Bản (khởi đầu từ chiến lược công nghệ thông tin năm 2001, chiến lược an ninh thông tin năm 2010, chiến lược an ninh mạng năm 2013 đến Đạo luật cơ bản về an ninh mạng năm 2014) hay Đạo luật An ninh mạng năm 2015 của Hoa Kỳ.
  • Về mặt lý luận thực hiện pháp luật, các công trình kinh điển của Liên Xô và Việt Nam (tiêu biểu như nghiên cứu của Nguyễn Minh Đoan, Nguyễn Văn Mạnh) đã phân định rõ bốn hình thức thực hiện pháp luật và các yếu tố bảo đảm. Tuy nhiên, việc vận dụng trực tiếp các phạm trù này vào lĩnh vực an ninh mạng còn rất hạn chế, hầu hết các công trình trước đây chỉ dừng lại ở góc độ kỹ thuật máy tính thuần túy, nghiệp vụ an ninh hoặc chính sách quốc tế.
  • Trên cơ sở nhận diện khoảng trống khoa học, Chương 1 xác lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu làm kim chỉ nam cho các chương kế tiếp.

Chương 2: Cơ sở lý luận của thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam

Chương 2 làm rõ các vấn đề lý luận cốt lõi, bao gồm:

  • Xác lập định nghĩa pháp luật về an ninh mạng và phân định ranh giới giữa an toàn thông tin mạng (chú trọng bảo vệ tính nguyên vẹn, tính bảo mật, tính khả dụng của thông tin) và an ninh mạng (bảo đảm hoạt động không gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân).
  • Phân tích 04 nhóm nội dung điều chỉnh chủ yếu của pháp luật an ninh mạng:
    1. Quy định về bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng: Bao gồm tiêu chí xác định hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; các hoạt động thẩm định an ninh mạng, đánh giá điều kiện an ninh mạng, kiểm tra an ninh mạng, giám sát an ninh mạng, ứng phó và khắc phục sự cố an ninh mạng, đấu tranh bảo vệ an ninh mạng và sử dụng mật mã bảo vệ thông tin; các quy định nghiêm cấm hành vi chống Nhà nước, tấn công mạng, khủng bố mạng, gián điệp mạng và phát tán mã độc.
    2. Quy định về bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trên không gian mạng.
    3. Quy định về trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ và người sử dụng mạng.
    4. Quy định về chế tài xử lý vi phạm (hình sự, hành chính, dân sự).
  • Làm rõ bản chất, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về an ninh mạng gắn với bốn hình thức: tuân thủ pháp luật, thi hành pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật; chỉ ra năm nhóm điều kiện bảo đảm: điều kiện chính trị, điều kiện pháp lý, điều kiện kinh tế - kỹ thuật, điều kiện tổ chức bộ máy và điều kiện con người.
  • Nghiên cứu kinh nghiệm lập pháp và thực thi pháp luật của Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, Đức, Nga, Singapore, từ đó rút ra bài học cho Việt Nam về việc luật hóa các chuẩn mực an ninh mạng, phân định rõ thẩm quyền và xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành.

Chương 3: Thực trạng pháp luật và thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam

Chương 3 tập trung phân tích thực trạng hệ thống văn bản pháp luật và việc tổ chức thực hiện trong giai đoạn 2015-2021:

  • Về thực trạng pháp luật: Luận án đánh giá hệ thống văn bản pháp luật đã từng bước hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động trên không gian mạng. Tuy nhiên, vẫn còn những bất cập như: sự thiếu đồng bộ giữa các quy định của Luật An ninh mạng năm 2018 và Luật An toàn thông tin mạng năm 2015; một số quy định còn mang tính nguyên tắc, chậm ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành.
  • Về thực trạng thực hiện pháp luật:
    • Tuân thủ pháp luật: Nhiều tổ chức, cá nhân vi phạm các điều cấm của pháp luật; tình trạng phát tán thông tin sai lệch, xâm phạm đời tư, lừa đảo trực tuyến và vi phạm an ninh thông tin diễn biến phức tạp.
    • Thi hành pháp luật: Các cơ quan nhà nước đã chủ động triển khai các đề án, chiến lược bảo đảm an toàn, an ninh mạng. Đến hết năm 2019, hệ thống giám sát an toàn thông tin phục vụ chính phủ điện tử đã giám sát tại 20/30 bộ, ngành và 51/63 địa phương; mạng lưới ứng cứu sự cố quốc gia được hình thành với gần 200 thành viên (Sách trắng 2020).
    • Sử dụng pháp luật: Các chủ thể đã từng bước sử dụng các quyền pháp lý để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trên môi trường mạng, tuy nhiên sự chủ động tự phòng vệ còn hạn chế.
    • Áp dụng pháp luật: Lực lượng chức năng (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan thanh tra chuyên ngành) tăng cường xử phạt hành chính theo Nghị định số 15/2020/NĐ-CP và xử lý hình sự theo Bộ luật Hình sự năm 2015. Tuy vậy, công tác áp dụng pháp luật còn gặp nhiều khó khăn do quy trình thu thập, giám định chứng cứ điện tử phức tạp và trang thiết bị chuyên dụng chưa đáp ứng yêu cầu.

Danh mục bảng và biểu đồ được tác giả sử dụng làm căn cứ phân tích thực trạng trong Chương 3:

Ký hiệu Tên bảng / biểu đồ trong luận án Trang Nội dung phản ánh
Bảng 3.1 10 sản phẩm phần mềm phổ biến hàng đầu có nhiều lỗ hổng bảo mật nhất năm 2016 theo tham chiếu của hệ thống CVSS 111 Mức độ mất an toàn kỹ thuật từ các lỗ hổng phần mềm phổ biến, tạo nguy cơ bị xâm nhập.
Biểu đồ 3.1 Chỉ số xếp hạng tăng trưởng chính phủ điện tử của Việt Nam giai đoạn 2003-2020 110 Quá trình phát triển chính phủ điện tử và sự gia tăng yêu cầu bảo đảm an ninh mạng.
Biểu đồ 3.2 Các cuộc tấn công mạng trong giai đoạn 2015-2019 119 Diễn biến và xu hướng gia tăng số lượng các cuộc tấn công mạng tại Việt Nam.

Chương 4: Quan điểm và giải pháp bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam

Chương 4 luận chứng các quan điểm chỉ đạo và đề xuất các nhóm giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng:

  • Hệ thống quan điểm chỉ đạo:
    • Quán triệt đường lối, chính sách của Đảng về bảo vệ an ninh quốc gia và an ninh mạng trong tình hình mới (Văn kiện Đại hội XII, Đại hội XIII, Chỉ thị số 28-CT/TW).
    • Bảo đảm thực hiện pháp luật về an ninh mạng gắn chặt với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và chiến lược chuyển đổi số quốc gia.
    • Bảo vệ vững chắc chủ quyền an ninh mạng quốc gia đi đôi với bảo đảm quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013.
    • Kết hợp nội lực với việc mở rộng hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và pháp luật quốc tế.
  • Các nhóm giải pháp cụ thể:
    • Hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật: Khẩn trương ban hành đầy đủ các nghị định, thông tư quy định chi tiết Luật An ninh mạng năm 2018; xử lý triệt để các điểm chồng chéo giữa Luật An ninh mạng và Luật An toàn thông tin mạng; hoàn thiện các quy định về thu thập, bảo quản chứng cứ điện tử trong tố tụng.
    • Nâng cao nhận thức, ý thức tuân thủ pháp luật: Tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về an ninh mạng; giáo dục kỹ năng sử dụng mạng an toàn cho người dân, đặc biệt là nhóm thanh thiếu niên và trẻ em; nâng cao trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp công nghệ số.
    • Kiện toàn tổ chức bộ máy và nâng cao năng lực chủ thể áp dụng pháp luật: Tăng cường đầu tư nguồn lực cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an và Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng; chuẩn hóa quy trình thanh tra, kiểm tra và xử phạt vi phạm; bồi dưỡng chuyên sâu nghiệp vụ giám định kỹ thuật số.
    • Tăng cường các điều kiện cơ sở vật chất, kỹ thuật và công nghệ: Đẩy mạnh phát triển hệ sinh thái sản phẩm an toàn thông tin mang thương hiệu Việt Nam ("Make in Viet Nam"); nghiên cứu, làm chủ phần mềm nguồn mở; đầu tư đồng bộ hạ tầng giám sát, cảnh báo sớm sự cố an ninh mạng.
    • Mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế: Ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế, thỏa thuận song phương và đa phương về phòng chống tội phạm mạng; tăng cường trao đổi dữ liệu ứng cứu khẩn cấp sự cố máy tính với các tổ chức quốc tế.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu đầu tiên khảo sát một cách tương đối toàn diện cơ sở lý thuyết và thực tiễn của thực hiện pháp luật về an ninh mạng dưới góc độ ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật tại Việt Nam. Đóng góp khoa học của luận án thể hiện ở việc:

  • Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết về thực hiện pháp luật trong một lĩnh vực kỹ thuật - xã hội chuyên biệt là an ninh mạng.
  • Xây dựng định nghĩa khoa học về pháp luật an ninh mạng và thực hiện pháp luật về an ninh mạng; chỉ rõ các đặc điểm, vai trò, hình thức biểu hiện và các điều kiện chính trị, pháp lý, kinh tế, công nghệ, con người bảo đảm cho quá trình này.
  • Phân loại rõ ràng 04 nhóm quan hệ pháp luật điều chỉnh làm khung phân tích cho hoạt động thực thi.

Về mặt thực tiễn, luận án mang lại các kết quả:

  • Cung cấp bức tranh thực trạng thực hiện pháp luật về an ninh mạng tại Việt Nam qua bốn hình thức: tuân thủ, thi hành, sử dụng và áp dụng pháp luật trong giai đoạn 2015-2021.
  • Chỉ rõ những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân của những tồn tại trong nhận thức, hạ tầng kỹ thuật và năng lực thực thi của các cơ quan chuyên trách.
  • Luận chứng cơ sở khoa học để đề xuất hệ thống quan điểm và năm nhóm giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm bảo đảm thực hiện hiệu quả pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế nghiên cứu được xác định theo phạm vi và điều kiện thực hiện đề tài:

  • Về nội dung: Luận án không bao quát toàn bộ mọi khía cạnh của pháp luật an ninh mạng mà giới hạn trong 04 nhóm quan hệ điều chỉnh chủ yếu (bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng; bảo đảm trật tự an toàn xã hội và quyền của tổ chức, cá nhân; trách nhiệm của các chủ thể; chế tài xử lý).
  • Về thời gian: Dữ liệu thực tiễn và số liệu thống kê được khảo sát chủ yếu kết thúc ở giai đoạn 2015-2021. Tại thời điểm bảo vệ luận án (năm 2022), một số văn bản quy định chi tiết Luật An ninh mạng năm 2018 vẫn đang trong quá trình hoàn thiện hoặc mới ban hành, do đó việc đánh giá hiệu quả tác động của các văn bản này trên diện rộng còn có giới hạn nhất định.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Tiếp tục theo dõi, đánh giá thực tiễn áp dụng các văn bản hướng dẫn thi hành Luật An ninh mạng năm 2018 sau khi hệ thống nghị định và thông tư đi vào triển khai đồng bộ.
  • Mở rộng phạm vi khảo sát dữ liệu thực nghiệm trong các giai đoạn tiếp theo, đặc biệt là đánh giá việc thực hiện pháp luật an ninh mạng trước sự xuất hiện của các công nghệ mới và yêu cầu bảo vệ chủ quyền số quốc gia.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị chuyên môn đối với nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với cơ quan quản lý nhà nước và lập pháp: Cung cấp cơ sở khoa học cho các cơ quan có thẩm quyền trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về an ninh mạng và an toàn thông tin mạng tại Việt Nam.
  • Đối với các cơ quan thực thi và áp dụng pháp luật: Cung cấp tài liệu tham khảo nghiệp vụ cho lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, các cơ quan thanh tra chuyên ngành, Tòa án và Viện kiểm sát trong công tác phân loại hành vi vi phạm, thu thập chứng cứ điện tử và xử lý tội phạm công nghệ cao.
  • Đối với các cơ sở nghiên cứu và đào tạo: Là tài liệu phục vụ công tác giảng dạy, học tập chuyên ngành Luật học (đặc biệt là bộ môn Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật), cũng như các ngành an ninh thông tin, quản lý nhà nước tại các cơ sở đào tạo chuyên luật và không chuyên luật.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án xác định đối tượng bảo vệ của an ninh mạng gồm những yếu tố nào?
Theo nội dung luận án và Luật An ninh mạng năm 2018, khách thể bảo vệ của an ninh mạng bao gồm: độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc; chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa; quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội; bí mật nhà nước; tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người; quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

2. Bốn hình thức thực hiện pháp luật về an ninh mạng được phân định ra sao?
Luận án phân tích bốn hình thức thực hiện pháp luật:

  • Tuân thủ pháp luật: Các chủ thể kiềm chế không thực hiện các hành vi bị pháp luật an ninh mạng nghiêm cấm (không tán phát mã độc, không chống phá nhà nước, không tấn công mạng).
  • Thi hành pháp luật: Các chủ thể thực hiện nghĩa vụ tích cực do pháp luật quy định (cơ quan, doanh nghiệp triển khai phương án bảo đảm an toàn hệ thống thông tin, ứng cứu sự cố).
  • Sử dụng pháp luật: Các chủ thể thực hiện quyền được pháp luật bảo hộ (quyền khiếu nại, yêu cầu bảo vệ dữ liệu cá nhân, quyền tự do thông tin hợp pháp).
  • Áp dụng pháp luật: Hoạt động mang tính quyền lực nhà nước của cơ quan có thẩm quyền (Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Tòa án...) nhằm ban hành quyết định hành chính hoặc chế tài xử lý vi phạm pháp luật an ninh mạng.

3. Phạm vi nội dung của luận án tập trung vào những nhóm điều chỉnh nào?
Luận án tập trung vào 04 nhóm nội dung điều chỉnh: (1) Quy định bảo vệ an ninh quốc gia trên không gian mạng; (2) Quy định bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trên không gian mạng; (3) Quy định về trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; (4) Quy định về chế tài xử lý hành vi xâm phạm an ninh mạng.

4. Những số liệu thực trạng kỹ thuật nào được luận án thống kê qua danh mục bảng biểu?
Luận án sử dụng ba bảng/biểu đồ chính để lượng hóa thực trạng: Bảng 3.1 tổng hợp 10 sản phẩm phần mềm phổ biến hàng đầu có nhiều lỗ hổng bảo mật nhất năm 2016 theo chuẩn CVSS (trang 111); Biểu đồ 3.1 phản ánh chỉ số xếp hạng tăng trưởng chính phủ điện tử của Việt Nam giai đoạn 2003-2020 (trang 110); Biểu đồ 3.2 phản ánh số lượng các cuộc tấn công mạng giai đoạn 2015-2019 (trang 119).

5. Luận án đề xuất những lực lượng chuyên trách nào đóng vai trò nòng cốt trong bảo đảm an ninh mạng tại Việt Nam?
Luận án chỉ rõ vai trò nòng cốt của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng thuộc Bộ Công an và Bộ Tư lệnh tác chiến không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng (thành lập năm 2017), cùng mạng lưới ứng cứu sự cố an toàn thông tin quốc gia gồm các đội ứng cứu của các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp nhà nước.

Kết luận

Luận án tiến sĩ "Thực hiện pháp luật về an ninh mạng ở Việt Nam" của tác giả Bùi Thị Long là công trình nghiên cứu hệ thống dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật. Công trình đã làm rõ khung lý thuyết về các hình thức, điều kiện bảo đảm thực hiện pháp luật trong môi trường không gian mạng, đồng thời đánh giá thực trạng thể chế và thực tiễn thi hành tại Việt Nam giai đoạn 2015-2021. Các quan điểm và giải pháp do luận án đề xuất có tính đồng bộ, góp phần cung cấp luận cứ khoa học cho hoạt động hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về an ninh mạng trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia.