Chương 1: Giới thiêu tổng quan bài toán trích chọn sự kiên và một số phương pháp tiếp cận giãi quyết bài toán trích chọn sự kiện. Chương 2: Trình bầy bài toán trích chọn sự kiện địch bệnh từ dữ liệu văn bản tiếng Việt, bao gồm phát biêu bài toán, phương pháp đề xuất, mô hình. phát hiện và trích chọn sự kiện, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của bài toán trích chọn sự kiện dịch bệnh. Chương 3: Trinh bay kết quả thực nghiệm mô hình trích chọn sự kiện địch bệnh trên một số trang thông tin điện tử (website) bằng tiếng Việt trên.
‘mang Internet Phân kết luận: Tôm tắt các kết quả đạt được và hướng phát triển tiếp của. 10 Chwong 1 TONG QUA Ñ VẺ TRÍCH CHỌN SỰ KIỆN Chương này giới thiệu tổng quan về trích chọn sự kiện và các phương pháp tiếp cận giải quyết bài toán trích chọn sự kiện. Tông quan về trích chọn thông tin 1. Bài toán trích chon thông tin Trích chọn thông tin là một lĩnh vực quan trọng trong khai phá dữ liệu văn bản, nó được định nghĩa như sau: Trích chọn thông tin (IE - Information Extraction) ta qua tinh lẫy thông tin từ các nguồn ở những định đạng không đồng nhất thậm chí không có định đạng cụ thể khi nó ở đạng văn bản điễn đạt bằng ngôn ngữ tự nhiên, sau đồ chuyển thành một đạng đồng nhất.
Dữ liệu sau khi trích chọn được sử đụng, trình bày trực tiếp cho người đùng, lưu vào. cơ sỡ dỡ liệu đễ xử lý sau đồ hay sử đụng cho những hệ thống tìm kiếm thông tin như một đữ liệu đã qua bước tiền xử lý. Trích chọn thông tin (TE) có thể được coi nằm giữa thu hỏi thông tin (Information Retrieval - IR) va hiểu văn bản (Text Understanding) [3]. Không giống với thu hồi thông tin chỉ tập trung vào các mẫu thông tin có liên quan trong văn bản, trích xuất thông tin còn quan tâm tới các sự kiện có liên quan.
trong văn bản và biểu điễn chúng đưới dạng các khuôn mẫu (template). cạnh đó, khác với hiểu văn bin chỉ tập trung trên một phần nhỏ cia văn bản (câu, đoạn văn), trích xuất thông tin quan tâm tới toàn bộ nội đung văn ban. "Theo Peshkin và Pfeffer, trích chọn thông tin có thể được định nghĩa như là một công việc điền thông tin vào các mẫu từ các đữ liệu không biết trước. trong miễn được định nghĩa trước.
Mục tiêu của trích chọn thông tin là lẫy từ các văn bản các thông tin nôi bật của các sự kiện, thực thể, hoặc các mối quan. Như vậy, có thê coi trích chọn thông tin là một kỹ nghệ lấy và biểu điễn trí u thức thành các thông tin cô định đạng và hữu ích từ nguôn dữ liêu vô tận trên. ài toán trích chọn thông tin có thé được phát biểu như sau: 1) Đâu vào: đữ liệu bất kỳ. 2)_ Đầu ra: thông tin hữu ích (tri thức) cô cấu trúc.
Dữ liệu đầu vào cho bài toán trích chọn thông tin rất phong phú và đa dạng. Dữ liệu cô thể là có cấu trúc (structured), bản cấu trúc (semi-structured). không cô cấu trúc (unstructured), hoặc có thể là đữ liệu không gian (partial) dữ liệu thời gian (temporal). Với bất kỳ dang dữ liệu nào, nhiệm vụ của trích chọn thông tin cũng phải đưa ra các kết quả có cấu trúc ngắn và ý nghĩa.
Cơ hội và thách thức cho bài toán trích chọn thông tin Trong tai liệu số [26], John chỉ ra rằng chúng ta đang đư thừa đữ liệu tuy nhiền lại nghèo nàn vé tri thite “We are drowning in data, but starving for Inowledge!” Theo thống kê của NOAA (National Oceanic and Atmospheric Administration, USA) tính tới thời điểm tháng 04-2012, dữ liệu người đùng tạo ra trên Intemet khoảng gần 60.000 Terabytes và sé tăng lên khoảng 160.000 Terabytes trong vòng 8 năm tới. Sự tăng trưởng được minh hoa trong "hình1. 2 : "- Caende Vexr Hình 1. Sự tăng trưởng dữ liệu từ năm 2004 đến năm 2020 Theo thống kề từ http:/iwww.com/twitterstatistics/ ngày 01/01/2014 trên đữ liệu Truiter, mỗi ngày có khoảng 135.000 người đăng hap vo Twitter, sé lượng các thông điệp một ngày trên Twitter là khoảng 58 triệu tweet, trung bình mỗi giây có khoảng 9.100 thông điệp được người ding đưa lên Twitter.
Sé liệu chỉ tiết được minh hoạ trong Bảng 1. Thống kê trên dữ liệu Twitter. Thống kê tir Twitter Đữ hiện Số lượng các người dùng đăng ký tích cực.000 Số lượng các người dùng đăng nhập một ngày.000 Số lượng các rang đặc biệt được thăm hang thing 180 triệu, Số lượng thông điệp một ngày. 58 tiên Số lượng các truy vẫn thông quan chức năng tìm kiểm một ngây [21 Số lượng các người ding tích cục hàng thẳng T15 tiện Số ngày mà tông số thông điệp đạt tối tỷ 5 ngày Số lượng các thông điệp một giây 9.100 Theo thống kế của Qmee (http:/blog qmee com/qmee-online-in-60- seconds/, ht p/ www.uk / life-style / gadgets-and-tech / news what-happens-in-60-seconds-on-the-intermnet-8738267 html), đữ liệu trên Tnternet trong 60 giây có thể được trực quan hóa như Hình 1.2 đưới đây rẻ Di Se 278-9 pa 7 Lộc nu + =20 roc) phew 9 ce Ess Hinh 1.
Dữ liêu trên Internet trong 60 giây Thông qua Hình 12, mỗi giây người đùng tải lên 72 giờ video, có khoảng 2 triệu câu truy vấn trên Google, khoảng 41.000 thông điệp được người đùng Facebook tải lên mỗi giây, khoảng 20 triệu bức ảnh được tải lên Flick, 204 triệu email được gi. Những con số thống kê trên cho thấy dữ liệu. được đưa lên Internet cô số lượng lớn và phong phú về chủng loại. Từ các thống kê trên, chúng ta có thể thấy rằng đữ liệu có xu hướng bùng nỗ trên Internet.
Tuy nhiên, nhiều đữ liệu không đảm bảo rằng người đùng có nhiều thông tin và càng không thể nói rằng người đùng có thể nim bắt được trí thức một cách hiễn nhiên và dé đàng. Trong thực tế, quá trình 4 bvién déi từ đữ liệu sang thông tin và cuối cùng sang tri thức là một quá trình. lâu đài, đòi hỏi nhiều phương pháp xử lý phức tạp. Quá trình biến đổi này có.
thể được minh hoạ trong hình 1. Các bước trong quá trình khám phá trỉ thức trong cơ sỡ dữ liệu Theo Fayyad và cộng sự [15], quá trình biến đổi từ dữ liệu thành trĩ thức 1à một quá trình biến đổi lâu đài, cần nhiều bước xử lý phức tạp. Trong suốt quả trình này, đữ liệu được thễ hiện ở ba mức: dữ liệu, thông tin ( và trí thức. Ở đây, dữ liệu có thể coi là một tập hợp các sự kiện (các bản ghỉ trong cơ sở đữ liệu).
Thông tin (mẫu) là một sự biểu điễn trong một ngôn ngữ mô tả của một tập con đữ liệu. Cuối cùng, thông tin sẽ là tri thức nếu nó vượt qua một nguting (threshold). Một điều rõ ràng, sự bùng nỗ dữ liệu trên Internet tạo ra những thuận lợi và thách thức: cho các nhà khoa học khi muốn thu hỏi thông tin. Đâu tiên, sự phat trién của Internet và sự bùng nổ thông tin tạo ra nhiều nguồn thông tin.
Nếu như trước đây, nguồn đữ liệu chủ yếu là văn bản (text) thì hiện nay đữ. liệu rất phong phú, bao gi các dỡ liệu văn bản, hình ảnh, âm thanh, các dit liệu thời gian, không gian. Những nguồn đữ liệu tạo điều kiện thuận lợicho. những nghiên cứu về trích chọn thông tin.
Bên cạnh đó, dữ liệu hiện nay không đơn Ithuầnlà tin tức, nỗ còn bao gồm thông tin cá nhân (cảm xúc, ý kiến). Từ những đữ liệu mới này, trích chọn thông tin có thể thu hồi những. thông tin mới phục vụ cho quả trình tích hợp thông tin. Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, sự bùng nỗ về dữ liệu tạo ra những thách thức không nhỗ trong lĩnh vực trích chọn thông tin.
Đầu tiên, với sự ra đời của các dỡ liệu mới đồi hỏi cần phải cô những kỹ thuật phù hợp. Đôi khi trong một số trường hợp, trích chọn thông tin phải đương đầu với những dữ liệu phức tạp như hình ảnh, âm thanh, đữ liệu không gian, hoặc thời gian. Thứ hai, sự đang đạng về nguồn dữ liệu đòi hỏi quá trình tích hợp dữ liệu phức tạp. Điều này xuất phát đo mục đích của trích chọn thông tin là lấy ra một lượng.
nhỏ thông tin có ÿ nghĩa, do đó, sau quá trình trích chọn, dữ liệu cin được tống hợp từ nhiều nguồn khác nhau để cuối cùng đưa ra đữ liệu có ý nghĩa với. người đùng. Cuối cùng, bài toán về tốc độ xử lý và tính toán cần được giải quyết. Với sự bùng nỗ về số lượng và phức tạp về nội đung yêu cầu các phương pháp trích chọn thông tin phãi có thời gian xử lý hợp lý: "Như đã đề cập ở trên, chúng ta có thể thấy rõ tầm ảnh hưởng của đữ liệu.
lớn (Big Data) tới quá trình thu hỏi thông tin của con người và vai trò của trích chọn thông tin trong bối cảnh thông tin bùng nỗ và gây khô khăn cho người đùng trong quá trình tiếp cận tri thức. Tông quan về trích chọn sự kiện 'Với vai trò trích chọn ra các thông tin có ý nghĩa từ tập lớn các dữ liệu, trích chọn sự kiện được cộng đồng khoa học rất quan tâm và đầu tư nghiên. Năm 1987, Message Understanding Conferences (MUC) (J2: /áwww- nipir. gov/related_projects/muc) được tô chức với sự hỗ trợ của Quỹ nghiên cứu Bộ quốc phòng Hoa Ky (http: en.wikipedia org/wik/DARPA) va lần đầu tiên khái niệm sự kiện event được đề cập.
Sau đó, rất nhiều hội nghị được tổ chức tạo thành đấy hội nghị MỤC. Với mỗi hội nghị, thông tin được quan tâm khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là chúng được trích xuất từ 16 dữ liệu nói về khủng hoäng (crisis). Các chủ đề trong dữ liệu thường là tội phạm, khủng bổ, đánh bom. Một trong những đồng góp lớn của MUC là đưa ra việc trích xuất thông tin đựa trên mẫu (scenario template).
Các mẫu được 'ban tổ chức quy định và các đội tham gia cần điền thông tin vào các mẫu này một cách tự động. Cuối cùng, các sự kiện được trích chọn gồm các thông tin: tổ chức, đối tượng tham gia (người, sự vật, sự việc), thời gian, địa điểm, số lượng.Độ chính xác (precision) va hồi tưởng (recal) của các nghiên cứu tham dự MUC nam trong khoảng 50% đến 602 [19] Chương trình Phat hién và đeo đối chủ đề (Topic Detection and Tracking, TDT) (http://projects.upennedwIDT/) được tỗ chức từ năm 1997 thu hút nhiều nhóm nghiên cứu từ các trường đại học tham gia. Chương trình này được phối hợp tổ chức bởi Viện Công nghệ và Chuẩn hoá quốc gia. Hoa Kj (NIST) va DAPRA nham gidi quyết bài toán phát hiện, theo đối, và xâu chuỗi sự kiện.