Chương 1. Giới thiệu tổng quan 11 đó trong thời gian cho phép hoặc đơn giản chỉ là có khuynh hướng thực hiện ý định đó. Tuy nhiên, ngoài cách định nghĩa của Bratman còn có rất nhiều cách mô tả khác về ý định như: (i) “một trạng thái hướng tới hành động có mục tiêu” 1 ; (ii) “trạng thái thực thi chứa một thành phần kế hoạch” 2 ; (iii) “thái độ với một năng lực làm việc cụ thể ” 3. Trước những quan điểm và cách hiểu khác nhau về ý định, Richard Scheer (2004) [85], đã phân tích và chỉ ra rằng “ý định được xem như một hướng hành động mà đã được ai đó “lựa chọn””.
Theo cách này, Richard muốn nhấn mạnh ý định hoàn toàn độc lập với việc đã cam kết hay đã quyết tâm. Tức là, sau khi hình thành một hướng hành động thì một người có thể xác định theo đuổi thực hiện các hành động đó hoặc không. Ví dụ một người có ý định đưa vợ anh ta đi ăn tối, anh ấy có thể thực hiện hoặc có thể không. Vậy có thể thấy có rất nhiều cách định nghĩa hay nhìn nhận về ý định.
Bên cạnh đó khi một người có ý định, họ có rất nhiều cách để thể hiện nó: — Qua suy nghĩ: khi đó chỉ mình người đó biết về ý định này; — Qua hình ảnh: đây là cách thể hiện không cần từ ngữ nhưng thực sự nó đáng giá bằng hàng ngàn từ ngữ. Một bức tranh, thậm chí là bức tranh trong đầu của một người về ý định của họ, chứa đựng cả con đường thực hiện ý định cũng như kết quả hoàn thiện của ý định quả thật rất giá trị; — Qua văn bản: ý định có thể được viết ra không cần theo chuẩn văn viết - như dưới dạng một danh sách những việc cần làm - hoặc theo đúng dạng văn viết như một sự xác nhận; — Qua lời nói: khi đó ý định có thể được thể hiện trực tiếp qua lời nói hoặc được trao đổi gián tiếp qua các công cụ “chat” dưới dạng ngôn ngữ nói; — Qua ngôn ngữ hình thể: như qua cách chuyển động, tư thế, cử chỉ;. Luận án này quan tâm cách thể hiện ý định qua ngôn ngữ và văn bản. Mỗi loại ngôn ngữ khác nhau có những cụm từ đặc trưng riêng được dùng để 1.
Pink, ‘Purposive Intending’, Mind, July 1991, p. Frederick Adams and Alfred Mele, ‘The Intention/Volition Debate’, Canadian Journal of Philosophy, Sept. David Velleman, ‘Review of Faces of Intention, by Michael Bratman’, Philosophical Quarterly, Jan. Giới thiệu tổng quan 12 thể hiện ý định hay kế hoạch của con người.
Chẳng hạn, trong tiếng Anh, để thể hiện kế hoạch, mục đích hoặc ý định, người ta thường dùng các cụm từ như: I’m going to., I have intention of., I fully intend to., It is my intention to. Tương tự trong tiếng Việt, ta có những cụm từ thể hiện ý định như: Tôi đang định., Tôi dự tính., Tôi đang cần tìm. Nếu xét về tiêu chí “có mang ý định hay không ?” thì một văn bản mà con người tạo ra có thể được phân vào một trong ba trường hợp sau: — Văn bản mang ý định rõ (Explicit Intent): là văn bản chứa ý định được thể hiện một cách cụ thể, rõ ràng, tức là người đọc có thể hiểu ngay được rằng người viết đang có ý định hay kế hoạch làm việc gì đó trong tương lai mà không cần phải mất nhiều thời gian suy luận, theo Z.Chen và cộng sự (2013)[21]; — Văn bản mang ý định ẩn (Implicit Intent): là các văn bản mà ở đó người viết không thể hiện rõ ý định hay kế hoạch của họ về một vấn đề cụ thể nào, mà đơn giản chỉ là đưa ra những câu hỏi hay đề xuất chung chung, tức là cần phải mất thời gian suy luận mới có thể đoán được ý định của người viết; — Văn bản không mang ý định (Non-Intent): là những văn bản còn lại, tức là những văn bản không hề mang một ý định nào.2 Ý định trong văn bản trực tuyến Để tiếp cận mục tiêu hiểu ý định từ văn bản trực tuyến tiếng Việt, trước tiên tác giả đưa ra khái niệm về văn bản trực tuyến được dùng trong phạm vi luận án. Định nghĩa 1: Văn bản trực tuyến - trong phạm vi của luận án - là những văn bản được đăng tải trên các phương tiện truyền thông hoặc dịch vụ trực tuyến bao gồm mạng xã hội, diễn đàn, blog, và các trang thương mại điện tử.
Như đã đề cập trong phần Mở đầu, luận án chỉ tập trung xác định ý định trong các văn bản trực tuyến dưới dạng các bài đăng/bình luận được người dùng của các phương tiện truyền thông xã hội đăng lên. Hay nói cách khác Chương 1. Giới thiệu tổng quan 13 người viết các bài đăng chính là người dùng các phương tiện truyền thông xã hội. Hơn nữa, trong tất cả các nghiên cứu đã công bố trên thế giới về phân tích và hiểu ý định mà tác giả đã tham khảo, khái niệm user intent hay user intention, tức là ý định người dùng đều được dùng để chỉ ý định của người viết.
Do đó trong phạm vi luận án này, khái niệm ý định người viết và ý định người dùng được sử dụng với ý nghĩa và mục đích tương đương nhau. Bên cạnh đó để cho ngắn gọn, đôi khi khái niệm văn bản trực tuyến trong luận án còn được viết là bài đăng. Cũng giống như văn bản, văn bản trực tuyến cũng có thể mang ý định rõ của người dùng, hoặc mang ý định ẩn của người dùng, hoặc không mang ý định nào.1 dưới đây đưa ra ví dụ về một văn bản trực tuyến mang ý định rõ, một văn bản trực tuyến mang ý định ẩn và một văn bản trực tuyến không mang ý định của người dùng. Trong đó, với văn bản trực tuyến mang ý định rõ, người đọc có thể xác định ngay ý định của người dùng là thuê - nhà, với một số tiêu chí như ở khu vực Phương Mai, Bách Khoa, giá khoảng 3 triệu.
Còn với văn bản trực tuyến mang ý định ẩn, người đọc có thể suy diễn ra ý định của người dùng là mua - ô tô, hoặc cũng có thể là thuê - ô tô. Cuối cùng, với văn bản trực tuyến không mang ý định thì có thể thấy ngay là người dùng không thể hiện một ý định cụ thể nào mà đơn giản chỉ là tư vấn cho một ai đó.1: Ví dụ về văn bản trực tuyến chứa và không chứa ý định Loại ý định Văn bản trực tuyến trên các phương tiện truyền thông xã hội Việt Nam “Tình hình là mình đang cần thuê nhà quanh khu vực Phương Mai, Bách Khoa hoặc Tôn Thất Tùng cho 3 người lớn và 1 cháu nhỏ. Ý định rõ (EI) Tầm tiền khoảng 3 triệu. Bạn nào có thông tin gì xin liên lạc với mình theo số 0905231880.
Cảm ơn nhiều !” Ý định ẩn (II) “Xe ô tô 7 chỗ thì loại nào tốt nhỉ ?” Không mang “Với số tiền đó thì bạn khó mà mua được nhà ở khu vực Cầu Giấy” ý định (NI) Việc khảo sát trên các phương tiện truyền thông xã hội ở Việt Nam cho thấy số lượng các bài đăng không mang ý định và mang ý định ẩn nhiều hơn rất nhiều lần so với số lượng bài đăng mang ý định rõ. Tương tự, trong một nghiên cứu của B. Hollerit và cộng sự (2013) [40], nhóm tác giả cũng đưa ra một thống kê về các bài đăng mang ý định “mua bán” trên mạng xã Chương 1. Giới thiệu tổng quan 14 hội Twitter, ở đó trong số 120 bài đăng thu thập được thì có 81 bài mang ý định ẩn và chỉ có 39 bài mang ý định rõ.
Trong khuôn khổ của luận án này tác giả chỉ tập trung xác định ý định của người dùng trong những văn bản mang ý định rõ. Việc xác định ý định người dùng trong những văn bản trực tuyến mang ý định ẩn tuy cũng có những giá trị nhất định của nó nhưng do tính chất phức tạp của loại văn bản này, tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu chúng trong tương lai. Bởi vậy từ đây cho đến cuối luận án tác giả sẽ gọi các đoạn văn bản trực tuyến mang ý định rõ là những văn bản có chứa ý định của người dùng, còn những văn bản mang ý định ẩn được tạm xếp vào cùng lớp với các văn bản không mang ý định.3 Phân tích ý định: bối cảnh khoa học Bài toán Phân tích và xác định ý định là một nhánh của hướng nghiên cứu Nhận biết kế hoạch, hành động, ý định [95] (Plan, activity, intent recognition), một hướng nghiên cứu đã bắt đầu từ khoảng 35 năm về trước. Công bố khoa học đầu tiên về nhận biết kế hoạch là của nhóm Schmidt, Sridharan, and Goodson vào năm 1978 [90].
Sau đó, trong mười năm gần đây, hướng nghiên cứu này đã đạt được nhiều tiến bộ, đặc biệt là trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo và những lĩnh vực liên quan. Trong đó, phải kể đến ba yếu tố chính làm nên sự tiến bộ này là: (1) nhu cầu bức thiết về một hệ thống nhận biết kế hoạch tinh vi và hiệu quả cho rất nhiều các ứng dụng khác nhau; (2) sự phát triển về kỹ thuật của các thuật toán trong các mô hình xác suất, mô hình học máy, mô hình tối ưu; (3) dữ liệu về các hoạt động của con người ngày càng nhiều và có thể thu thập dễ dàng. Theo nhận định của Chen và cộng sự (2002) [20], có hai cách tiếp cận chính để giải quyết bài toán xác định ý định người dùng trên các phương tiện truyền thông xã hội trực tuyến: (1) Dựa vào các hành vi, hồ sơ của người dùng tham gia trên các phương tiện truyền thông trực tuyến như nhấn chọn liên kết (click the hyperlinks), lịch sử đăng nhập (login), lưu trang, đóng trình duyệt, tải dữ liệu (download); (2) Dựa vào các đặc trưng ngữ nghĩa, cú pháp, từ vựng của những bài đăng dưới dạng văn bản của người dùng. Những nghiên cứu đầu tiên về hiểu ý định hay xác định mục tiêu của người dùng hầu hết đi theo hướng tiếp cận (1), điển hình như Ashkan và cộng sự (2008) [2], Broder và cộng sự (2002)[12], Chen và cộng sự (2002) [20], Kiseleva và cộng Chương 1.
Giới thiệu tổng quan 15 sự [58], Lee và cộng sự (2005) [63], Li và cộng sự (2008) [66], Radlinski và cộng sự (2010) [82], Speretta và cộng sự (2004) [94], Shen và cộng sự (2011) [91]. Khi có sự xuất hiện của mạng xã hội như facebook (2004), twitter (2006), dữ liệu dưới dạng văn bản như các bài đăng của người dùng (post, comment, tweet) tăng đáng kể, vì vậy hướng tiếp cận (2) cũng phát triển mạnh hơn và đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận.