Chương 1 TỔNG QUAN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ NGƯỜI TIÊU DÙNG VÀ CHẾ TÀI XỬ LÝ ĐỐI VỚI TỔ CHỨC, CÁ NHÂN KINH DOANH CÓ HÀNH VI VI PHẠM PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI Luận văn thạc sĩ Kinh tế NGƯỜI TIÊU DÙNG 1. Pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1. Khái niệm người tiêu dùng Dưới giác độ kinh tế học, khái niệm NTD đã tồn tại từ rất lâu trong xã hội. NTD là những con người, là tất cả chúng ta [21,tr.
NTD là một bộ phận bao gồm những người trong xã hội mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của những người kinh doanh dịch vụ, hàng hóa. Đó có thể là tổ chức, cũng có thể là cá nhân, cũng có thể là hộ gia đình mua hàng hóa để sử dụng, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc cũng có thể sử dụng dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh. Có thể nói, bất cứ cá nhân, tổ chức nào mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của chính bản thân mình, người khác đều được coi là NTD. NTD luôn là một bộ phận chiếm số lượng lớn trong xã hội.
Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ NTD của một số quốc gia trên thế giới, ta có thể nhận thấy quan niệm về NTD ở các nước là khác nhau, nhưng có thể tựu chung lại ở 2 nhóm: - Cách quy định thứ nhất chỉ quy định cá nhân được coi là NTD. Đây là cách quy định của EU, Canada, Malaysia. Cách quy định này thể hiện rõ luật bảo vệ NTD chỉ bảo vệ đối với cá nhân, còn pháp nhân do họ có những vị thế và điều kiện tốt hơn so với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật bảo vệ NTD không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ [23,tr. 8 - Cách quy định thứ hai là quy định rõ cả thể nhân và pháp nhân đều là NTD, đây là cách quy định của Hàn Quốc.
Quy định này tuy có vẻ hơi rộng và có quan điểm cho rằng nó sẽ làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ NTD [23,tr. Tuy nhiên cách quy định này đã khắc phục được hạn chế của cách quy Luận văn thạc sĩ Kinh tế định thứ nhất. Bởi lẽ, không phải lúc nào pháp nhân cũng là người đủ khả năng để đối mặt được với các vi phạm từ phía nhà sản xuất kinh doanh và hậu quả là nếu Luật bảo vệ NTD không bảo vệ họ như đối với các cá nhân tiêu dùng khác thì quyền lợi của một nhóm đối tượng khá lớn trong xã hội sẽ bị xâm phạm, điều này sẽ gây thiệt hại chung cho toàn xã hội. Tại Việt Nam, trước năm 1986, khái niệm NTD rất ít được đề cập.
Khái niệm này đôi khi được truyền thông nhắc tới nhưng chỉ với tư cách là nguồn đánh giá tham khảo cho việc xét duyệt các danh hiệu thi đua sản xuất giữa các đơn vị kinh tế quốc doanh và tập thể. Từ sau năm 1986, khi nền kinh tế nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, khái niệm NTD xuất hiện với đúng nghĩa là thành tố thị trường. Từ đây, NTD được hiểu là những người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ của các cá nhân, tổ chức kinh doanh. Tuy nhiên, trước năm 1999, khái niệm NTD vẫn chưa được cụ thể hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật.
Phải đến ngày 27/4/1999, sau nhiều lần biên soạn, lấy ý kiến, Pháp lệnh BVQLNTD được Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày 01/10/1999. Trong văn bản này, khái niệm NTD lần đầu tiên được quy định trong một văn bản pháp luật. Điều 1 Pháp lệnh bảo vệ NTD đã quy định: NTD là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức. Như vậy, với quy định này, NTD đã được xác lập địa vi pháp lý trong văn bản pháp luật.
Điều đó sẽ tạo tiền đề tốt 9 hơn cho công tác bảo vệ NTD khi xác định rõ đối tượng cần được bảo vệ gồm những ai. Khoản 2 Điều 2 Nghị định 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã giải thích cụ thể hơn về NTD. Theo đó, NTD là người mua sử dụng hàng hoá, dịch vụ phục vụ cho mục đích Luận văn thạc sĩ Kinh tế tiêu dùng, sinh hoạt và nhu cầu công việc của tổ chức, cá nhân, gia đình, bao gồm những đối tượng sau: người mua và là người sử dụng hàng hoá, dịch vụ đã mua cho chính bản thân mình; người mua hàng hoá, dịch vụ cho người khác, cho gia đình hoặc cho tổ chức sử dụng; cá nhân, gia đình, tổ chức sử dụng hàng hoá, dịch vụ do người khác mua hoặc do được cho, tặng. Sau một thời gian thực hiện, trước tình hình đất nước có nhiều đổi mới, công tác bảo vệ NTD cần phải được quy định trong văn bản có hiệu lực pháp lý cao nhất, năm 2010, Quốc hội đã thông qua Luật BVQLNTD.
Luật BVQLNTD đã nâng tầm các quy định pháp luật về bảo vệ NTD, tạo điều kiện tốt hơn cho việc bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của NTD. Kế thừa những quy định từ Pháp lệnh BVQLNTD 1999, Điều 3 Khoản 1 Luật BVQLNTD 2010 đã định nghĩa về NTD như sau: NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Như vậy, về cơ bản, khái niệm NTD trong Luật BVQLNTD không khác so với quy định tại Pháp lệnh BVQLNTD năm 1999. Nhìn chung, pháp luật Việt Nam đều cho rằng NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm phục vụ cho các mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức.
Pháp luật nước ta tuy không quy định rõ NTD là cá nhân hay tổ chức nhưng với quy định tại Khoản 2 Điều 2 Nghị định 69/2001/NĐ-CP, ta có thể hiểu được tổ chức, cá nhân đều được coi là NTD. Việc quy định NTD bao gồm cả tổ chức và cá nhân là rất hợp lý. Bởi lẽ, trong thực tiễn, không chỉ cá nhân là đối tượng dễ bị xâm phạm quyền lợi mà rất nhiều tổ chức cũng không 10 đủ khả năng đối mặt với vi phạm từ nhà sản xuất kinh doanh. Đồng thời, các tổ chức này cũng phải mua các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu để phục vụ cho các cán bộ, nhân viên của họ và các giá trị giao dịch giữa những đối tượng này với các nhà mua bán hàng hoá, dịch vụ là tương đối lớn.
Đặc trưng và những nội dung cơ bản của pháp luật bảo vệ Luận văn thạc sĩ Kinh tế quyền lợi người tiêu dùng 1. Đặc trưng của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Trong thực tế, quan hệ giữa NTD và nhà cung cấp hàng hóa dịch vụ là các quan hệ tư. Tuy nhiên, do có đặc điểm về sự khác biệt giữa vị thế của người cung cấp và NTD trong quan hệ này, cụ thể là NTD luôn ở thế yếu hơn, thiếu thông tin về hàng hóa, dịch vụ, nên cần thiết phải có sự can thiệp nhất định của Nhà nước vào quan hệ này để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của bên yếu thế. Một trong những công cụ tốt nhất để BVQLNTD chính là việc xây dựng các quy định pháp luật về bảo vệ NTD.
Pháp luật BVQLNTD là lĩnh vực pháp luật điều chỉnh các quan hệ giữa NTD và các cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Lĩnh vực pháp luật này quy định quyền của NTD, trách nhiệm sản phẩm của thương nhân, ngăn chặn các giao dịch không công bằng, bảo vệ thông tin của cá nhân. Pháp luật BVQLNTD có một số nét đặc trưng như: Thứ nhất, pháp luật BVQLNTD đã áp đặt những điều kiện bắt buộc thương nhân phải tuân thủ để khắc phục những bất lợi của NTD trong quan hệ với nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Cụ thể, pháp luật bảo vệ NTD tập trung quy định các vấn đề kiểm soát điều kiện giao dịch chung; cấm các điều khoản không công bằng; quy định trình tự thực hiện giao dịch từ xa, giao dịch điện tử.
Việc can thiệp này làm cho nguyên tắc tự do khế ước chỉ còn ý nghĩa tương đối trong các giao dịch giữa NTD và thương nhân. Luật BVQLNTD 2010 đã quy định cụ thể trách 11 nhiệm của các thương nhân trong việc kiểm soát điều kiện giao dịch chung, hợp đồng theo mẫu đối với việc kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc Danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu do Thủ tướng Chính phủ ban hành. Thứ hai, pháp luật BVQLNTD xác định trách nhiệm của thương nhân một cách nghiêm khắc và mở rộng về chủ thể chịu trách nhiệm. Luận văn thạc sĩ Kinh tế Theo đó, những người chịu trách nhiệm đối với khuyết tật của sản phẩm chính là những người gây ra khuyết tật, nhưng cũng có thể không phải là người gây ra khuyết tật đó nhưng có tham gia vào chuỗi hoạt động đưa sản phẩm đến tay NTD.
Việc quy định trách nhiệm đối với sản phẩm khuyết tật là một việc làm rất cần thiết nhằm bảo vệ tối đa quyền lợi NTD khi mua sản phẩm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh. Hầu hết các nước trên thế giới đều có Luật trách nhiệm sản phẩm nằm trong hoặc độc lập với Luật bảo vệ NTD. Chẳng hạn, ở Thái Lan, Luật trách nhiệm sản phẩm được ban hành năm 2008 trong khi đó Luật bảo vệ NTD của họ có từ năm 1979 [21,tr. Ở Việt Nam, quy định về trách nhiệm sản phẩm được quy định tại Điều 22, 23, 24 Luật BVQLNTD năm 2010.
Theo đó, khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa có trách nhiệm thu hồi hàng hóa đó. Bên cạnh đó, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của NTD, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp chứng minh được khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho NTD. Thứ ba, pháp luật BVQLNTD thiết lập những ngoại lệ so với những nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống. Đây là những ngoại lệ về điều kiện, hình thức khởi kiện hoặc giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh.