Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về cung cấp dịch vụ thương mại điện tử. Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về cung cấp dịch vụ thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay. Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ thương mại điện tử ở Việt Nam hiện nay. 14 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CUNG CẤP DỊCH VỤ THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1.
Khái quát về cung cấp dịch vụ thƣơng mại điện tử. Khái niệm, đặc điểm của cung cấp dịch vụ thƣơng mại điện tử. Khái niệm cung cấp dịch vụ thương mại điện tử. Thương mại điện tử, hiểu theo nghĩa thông thường nhất là giao dịch thương mại thông qua môi trường điện tử.
Khái niệm của International Business Machines (IBM) - một tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia đưa ra trong thập niên 1990 về thương mại điện tử là: “Hiểu theo nghĩa rộng, thương mại điện tử bao gồm tất cả các loại giao dịch thương mại mà trong đó các đối tác giao dịch sử dụng các kỹ thuật thông tin trong khuôn khổ chào mời, thảo thuận hay cung cấp dịch vụ”22. Khái niệm mà ngày nay được xem là một lĩnh vực nằm trong kinh doanh điện tử (E-Business). Các quy trình kinh doanh điện tử có thể được nhìn từ phương diện trong nội bộ của một doanh nghiệp hay từ phương diện ngoài doanh nghiệp (thị trường điện tử, E-Commerce,…). Các tổ chức quốc tế đã xây dựng khái niệm dựa vào phân tích về nghĩa hẹp và nghĩa rộng của thương mại điện tử.
Hiểu theo nghĩa hẹp, thương mại điện tử chỉ đơn thuần bó hẹp trong việc mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử, nhất là qua Internet và các mạng liên thông khác.Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet”23. Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), “Thương mại điện tử là việc làm kinh doanh thông qua mạng Internet, bán những hàng hoá và dịch vụ có thể được phân phối không thông qua mạng hoặc những hàng hoá có thể mã hoá bằng kỹ thuật số và được phân phối thông qua mạng hoặc không thông qua mạng”24.Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái 22 Chiến dịch quảng cáo của IBM trong năm 1998 dựa trên khái niệm “E-Commerce” được sử dụng từ khoảng năm 1995 23 Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) 24 Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) 15 Bình Dương (APEC) cũng định nghĩa, “Thương mại điện tử là công việc kinh doanh được tiến hành thông qua truyền thông số liệu và công nghệ tin học kỹ thuật số”25. Còn theo Hiệp hội Thương mại điện tử (AEC), “Thương mại điện tử là làm kinh doanh có sử dụng các công cụ điện tử. Định nghĩa này rộng, coi hầu hết các hoạt động kinh doanh từ đơn giản như một cú điện thoại giao dịch đến những trao đổi thông tin EDI phức tạp đều là thương mại điện tử”26.
Luật mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về thương mại quốc tế (UNCITRAL) định nghĩa: “Thương mại điện tử là việc trao đổi thông tin thương mại thông qua các phương tiện điện tử, không cần phải in ra giấy bất cứ công đoạn nào của toàn bộ quá trình giao dịch” 27.Thuật ngữ thương mại (commerce) cần được diễn giải theo nghĩa rộng để bao quát các vấn đề phát sinh từ mọi quan hệ mang tính chất thương mại dù có hay không có hợp đồng. Các quan hệ mang tính thương mại (commercial) bao gồm, nhưng không chỉ bao gồm, các giao dịch sau đây: bất cứ giao dịch nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hoá hoặc dịch vụ; thoả thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại, uỷ thác hoa hồng (factoring), cho thuê dài hạn (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn, kỹ thuật công trình (engineering); đầu tư; cấp vốn, ngân hàng; bảo hiểm; thoả thuận khai thác hoặc tô nhượng, liên doanh và các hình thức về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hoá hay hành khách bằng đường biển, đường không, đường sắt hoặc đường bộ”. Theo định nghĩa này, phạm vi hoạt động của thương mại điện tử rất rộng, bao quát hầu hết các lĩnh vực hoạt động kinh tế, trong đó, hoạt động mua bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một phạm vi rất nhỏ trong thương mại điện tử. Theo Uỷ ban Châu Âu, thương mại điện tử gồm nhiều hành vi như hoạt động mua bán hàng hoá, dịch vụ; giao nhận các nội dung kỹ thuật số trên mạng; chuyển tiền điện tử; mua bán cổ phiếu điện tử, vận đơn điện tử; đấu giá thương mại; hợp tác thiết kế; tài nguyên trên mạng; mua sắm công cộng; tiếp thị trực tiếp với người tiêu dùng và các dịch vụ sau bán hàng; đối với thương mại hàng hoá (như hàng tiêu dùng, thiết bị y tế chuyên dụng) và thương mại dịch vụ (như dịch vụ cung cấp thông tin, dịch vụ pháp lý, tài chính); các hoạt động truyền 25 Uỷ ban Thương mại điện tử của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á-Thái Bình Dương (APEC) 26 Hiệp hội Thương mại điện tử (AEC) 27 Luật mẫu về thương mại điện tử của Uỷ ban Liên Hợp Quốc về thương mại quốc tế (UNCITRAL) 16 thống (như chăm sóc sức khoẻ, giáo dục) và các hoạt động mới(như siêu thị ảo) v.
Với cách định nghĩa này, “thương mại” (commerce) trong “thương mại điện tử” không chỉ là buôn bán hàng hoá và dịch vụ (trade) theo các hiểu thông thường, mà bao quát một phạm vi rộng lớn hơn nhiều. Do đó, việc áp dụng thương mại điện tử sẽ làm thay đổi hình thái hoạt động của hầu hết nền kinh tế. Theo ước tính đến nay, thương mại điện tử có tới trên 1.300 lĩnh vực ứng dụng, trong đó, buôn bán hàng hoá và dịch vụ chỉ là một lĩnh vực ứng dụng. Ở Việt Nam, khái niệm thương mại điện tử đã được ghi nhận trong các văn bản quy phạm pháp luật, theo đó thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hay toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông hoặc các mạng mở khác.
Như vậy, theo cách định nghĩa trên, thương mại điện tử được hiểu theo nghĩa rộng, trên cơ sở đó khái niệm về thương mại điện tử được hiểu một cách thống nhất là: “Thương mại điện tử là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử được kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”.28 Việc xây dựng khái niệm thương mại điện tử theo nghĩa rộng đặt ra yêu cầu điều chỉnh pháp luật thương mại điện tử tương ứng. Với sự phát triển của Internet và các thiết bị công nghệ tân tiến, thương mại điện tử đã trở thảnh một sản phẩm rất quan trọng của sự phát triển kinh tế hiện đại, đồng thời nó cũng có tác động lớn hơn đến các mô hình kinh doanh truyền thống. Thương mai điện tử sử dụng Internet như một phương tiện truyền tải thông tin, môi trường hoạt động. Một mặt tạo ra lợi ích kinh tế lớn cho thương nhân, mặt khác có thể hướng dẫn thương nhân nắm bắt tốt hơn nhu cầu thị trường, từ đó nâng cao sức hấp dẫn đối với khách hàng.
Cụ thể, thương mại điện tử làm cho quá trình bán hàng thuận tiện hơn, giảm thiểu chi phí về giá của hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, thương mại điện tử còn giảm thiểu trên hàng hóa về quảng bá, khuyến mại. Do đó, có lợi thế về nhân lực trong quá trình bán hàng, giảm chi phí nhân lực của doanh nghiệp, quản lý thuận tiện hơn, khả năng cạnh tranh trên thị trường của doanh nghiệp cũng mạnh mẽ hơn. Ngày nay, do 28 Điều 2, Điều 3 Luật Giao dịch điện tử 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2023) 17 triển vọng phát triển rộng lớn của thương mại điện tử, các thương gia, người tiêu dùng, các tổ chức tài chính và các quốc gia đều đã tham gia vào hoạt động này, từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong nước đến thương mại quốc tế.
Có thể nói rằng thương mại điện tử không chỉ liên quan mật thiết đến đời sống, công việc hàng ngày của con người mà còn tác động sâu sắc đến các mô hình kinh doanh truyền thống. Hoạt động cung cấp dịch vụ thương mại điện tử là một phương thức của thương mại điện tử. Điều 24 Nghị định 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử quy định phân loại 6 chủ thể tham gia hoạt động thương mại điện tử, trong đó bao gồm các thương nhân, tổ chức thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mai, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ được gọi 1à thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử.29 Theo quy định tại Khoản 14 Điều 3 Nghị định 09/2018/NĐ-CP về quy định chi tiết Luật thương mại và Luật Quản lý ngoại thương về hoạt động mua bán hàng hóa và các hoạt động liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hóa của nhà đầu tư nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam thì khái niệm dịch vụ thương mại điện tử được quy định cụ thể như sau: Dịch vụ thương mại điện tử là hoạt động thương mại theo đó bên cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ.30 Theo Khoản 3 Điều 1 Nghị định 85/2021/NĐ-CP (Có hiệu lực từ 01/01/2022) có quy định: “Dịch vụ thƣơng mại điện tử là hoạt động thương mại điện tử theo đó thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử thiết lập website thương mại điện tử để cung cấp môi trường cho thương nhân, tổ chức, cá nhân khác tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, bán hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ”31.