CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN MẠNG XÃ HỘI VÀ PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ TRÊN MẠNG XÃ HỘI 1. Khái quát về hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội 1. Định nghĩa về hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội Thứ nhất, định nghĩa mạng xã hội Thuật ngữ MXH đã xuất hiện từ những năm của thập niên 1990, cụ thể, năm 1997 lần đầu tiên một sản phẩm được ra mắt có đầy đủ yếu tố của MXH bây giờ đó là SixDegrees. Nền tảng này dựa trên nguyên lý hai người bất kỳ nào cũng có thể liên kết với nhau tối đa sáu lần thông qua giới thiệu theo hình thức “bạn của bạn”.
Trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự bùng nổ chưa từng có của khoa học công nghệ đã giúp cho cuộc sống của xã hội trở nên tiện ích hơn. MXH cũng phát triển rất mạnh mẽ, theo báo cáo của WeareSocial Digital (2024) số người sử dụng MXH đã lên đến hơn 5 tỷ người (Phong Vân, 2024). Qua đó, MXH không còn xa lạ với mọi người. Tuy nhiên, để có thể định nghĩa MXH một cách chính xác và đầy đủ thì cần phải có sự nghiên cứu.
Trong xã hội học, có thể định nghĩa: “mạng xã hội đề cập đến một loạt các kết nối xã hội liên kết trực tiếp một người với người khác và sau đó, với nhiều người hơn nữa thông qua họ. Mạng lưới, trong bối cảnh này, đề cập đến việc giao tiếp với những người này. Trong cách sử dụng hàng ngày, mạng xã hội đề cập đến hành động tương tác với mọi người, tổ chức và chia sẻ thông tin trực tuyến. Trong trường hợp này, mạng xã hội có thể đề cập đến phương tiện và công nghệ hỗ trợ những hành động này, tức là các trang web và ứng dụng trực tuyến” (Study Smarter, 2024).
Theo từ điển Tiếng Anh, MXH là “một trang web hoặc chương trình máy tính cho phép mọi người giao tiếp và chia sẻ thông tin trên internet bằng máy tính hoặc điện thoại di động.” Tại Việt Nam, định nghĩa về MXH được nêu tại khoản 22 điều 3 Nghị định 72/2013/ NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng: “Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử 6 dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác”. Theo đó, quy định này định nghĩa MXH bằng cách liệt kê những loại hình dịch vụ từ hệ thống thông tin cho phép người sử dụng mạng truy cập. Mặc dù các cách diễn đạt định nghĩa về MXH của các nước là khác nhau nhưng nội dung vẫn có điểm tương đồng. Đó là sự kết nối thông tin giữa các chủ thể trong hệ thống mạng với nhau trên một nền tảng có thể cho phép họ thực hiện được.
Tóm lại, có thể định nghĩa MXH như sau: Mạng xã hội là một nền tảng trực tuyến hoặc ứng dụng trực tuyến của con người, qua đó cho phép những chủ thể có thể truy cập vào nhằm kết nối, truyền đạt thông tin với nhau bằng nhiều hình thức khác thông qua internet. Thứ hai, định nghĩa hoạt động TMĐT Trải qua nhiều giai đoạn của lịch sử, thế giới đang không ngừng vận hành trong thập kỷ thứ ba của thế kỷ 21, xã hội đang chứng kiến sự phát triển vượt trội của internet. Có thể nói, internet là một trong những nền tảng tiện ích mà được xã hội ưa chuộng. Trong hoạt động thương mại, việc ứng dụng các nền tảng từ phương tiện điện tử đã trở thành một phương thức kinh doanh hoàn toàn khác so với hoạt động thương mại truyền thống, đó là hoạt động TMĐT.
Theo Tổ chức thương mại thế giới (WTO), định nghĩa TMĐT là: "Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng cáo, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng Internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hoá thông qua mạng Internet.” Theo định nghĩa của WTO thì TMĐT là một chu trình bao gồm những hoạt động thương mại được thực hiện trên mạng internet, quá trình giao và nhận được thực hiện một cách hữu hình. Theo Uỷ ban TMĐT của Tổ chức hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa TMĐT: "Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên Internet.” 7 Theo tác giả Phí Mạnh Cường (2022) định nghĩa TMĐT như sau: “thương mại điện tử là việc thực hiện một phần hoặc toàn bộ các quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử được kết nối với nhau thông qua Internet. Trong đó, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.” Những định nghĩa trên đều giải thích rất rõ về TMĐT tuy nhiên không đưa ra định nghĩa về hoạt động TMĐT. Ở Việt Nam, thuật ngữ hoạt động TMĐT được giải thích tại khoản 1 điều 3 Nghị định số 52/2013/NĐ-CP quy định về hoạt động TMĐT.
Cụ thể như sau: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng Internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”. Với cách giải thích này, đã mô tả khá bao quát về hoạt động TMĐT. Tóm lại, hoạt động TMĐT có thể được định nghĩa như sau: Hoạt động thương mại điện tử là hoạt động thương mại, theo đó các chủ thể tiến hành một phần hoặc toàn bộ quá trình của hoạt động thương mại thông qua phương tiện điện tử kết nối mạng Internet. Thứ ba, định nghĩa hoạt động TMĐT trên MXH Từ định nghĩa của hoạt động TMĐT thì có thể thấy nội hàm của hoạt động này khá rộng và được biểu hiện thông qua nhiều cách thức đa dạng.
Ngoài thực hiện thông qua sàn thương mại điện tử, Website thì nền tảng MXH là một cách thức đầy tiềm năng. Nói một cách khác, hoạt động TMĐT trên MXH là nội hàm của hoạt động TMĐT. Hoạt động TMĐT trên MXH đang phát triển rất nhanh trong giai đoạn gần đây, với lợi thế được nhiều người biết đến và sử dụng, các nền tảng MXH tận dụng để thêm các chức năng thương mại nhằm kích thích các bên tham gia vào, từ đó thị trường TMĐT trở nên sôi nổi hơn. Hiện nay, chưa có một định nghĩa cụ thể nào về hoạt động TMĐT trên MXH.
Tuy nhiên, bằng việc nắm rõ được định nghĩa MXH và định nghĩa TMĐT thì có thể định nghĩa hoạt động TMĐT trên MXH như sau: Hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội là một dạng của hoạt động thương mại điện tử. Qua đó, cá nhân (tổ chức) tiến hành một phần hoặc toàn bộ quá trình hoạt động thương mại bằng cách sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, tạo trang thông tin điện tử cá 8 nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác để thực hiện. Đặc điểm của hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội Xuất phát từ khái niệm thì bản chất của HĐTMĐT trên MXH có những đặc điểm chung với HĐTMĐT thông thường. Gồm những đặc điểm sau đây: Thứ nhất, về chủ thể tham gia vào hoạt động TMĐT trên MXH: Các chủ thể bao gồm: Người tiêu dùng (Customers); Doanh nghiệp (Business); Nhà nước (đại diện là Chính Phủ- Government); Bên thứ ba ( Nhà cung cấp dịch vụ).
Tương ứng với sự tham gia vào hoạt động của các chủ thể và từng trường hợp giao dịch cụ thể là các mô hình TMĐT. Đối với sự tham gia của doanh nghiệp và người tiêu dùng là mô hình giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng (B2C), đối với sự tham gia của doanh nghiệp với nhau là mô hình doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B), đối với sự tham gia của doanh nghiệp và Chính phủ là mô hình giữa doanh nghiệp với Chính phủ (B2G), đối với sự tham gia của các Chính phủ là mô hình giữa Chính phủ với Chính phủ (G2G), đối với sự tham gia của người tiêu dùng và Chính phủ là mô hình giữa người tiêu dùng với Chính phủ (C2G). Trong những mô hình này thì mô hình doanh nghiệp với doanh nghiệp (B2B) chiếm doanh thu lớn nhất. Đối với bên thứ ba (Nhà cung cấp dịch vụ) đóng vai trò quan trọng trong HĐTMĐT, góp phần thực hiện hoạt động TMĐT trở nên nhanh chóng và đảm bảo an toàn cho thông tin thông qua việc kiểm định dữ liệu của các bên tham gia.
Thứ hai, hoạt động TMĐT chứa một lượng thông tin cực kỳ lớn: Cùng với sự phát triển khoa học công nghệ, sự tham gia của các chủ thể ngày càng nhiều thì khối lượng thông tin dữ liệu đến từ hoạt động TMĐT cực kỳ lớn. Mọi hoạt động của họ đều thực hiện trên các sàn giao dịch điện tử, Website, nền tảng MXH. Vì vậy, nguồn thông tin từ các bên đăng tải cực kỳ đa dạng, từ văn bản tới âm thanh, hình ảnh,… Thứ ba, phạm vi của hoạt động TMĐT là không giới hạn: Đối với hoạt động thương mại truyền thống thì việc thực hiện các giao dịch thương mại cần có thời gian, địa điểm được xác định rõ ràng. Tuy nhiên hoạt động TMĐT nói chung, hoạt động TMĐT trên MXH nói chung thì việc người tiêu dùng có thể mua hàng mọi thời điểm và bất cứ thời gian nào.
Việc trao đổi, tiếp cận thông tin liên quan tới giao dịch đều được thực hiện trên TMĐT, do đó các chủ thể không cần phải gặp mặt trực tiếp mà có thể ở 9 bất cứ đâu cũng có thể thực hiện được. Hơn thế nữa, thông qua TMĐT thì mức độ tương tác của các chủ thể cũng trở nên nhanh hơn và thuận tiện hơn. Thứ tư, mạng Internet có vai trò không thể thiếu trong hoạt động TMĐT: Xuất phát từ khái niệm của hoạt động TMĐT nói chung, hoạt động TMĐT trên MXH nói riêng thì mạng Internet là phương tiện không thể thiếu.