Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự bùng nổ của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư với các công nghệ nền tảng như Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT) và Dữ liệu lớn (Big Data) đã tạo ra sự chuyển dịch căn bản trong phương thức hoạt động thương mại. Theo ước tính từ PricewaterhouseCoopers (PwC), công nghệ AI có thể đóng góp làm tăng trưởng kinh tế thế giới thêm 14% (tương đương 15,7 nghìn tỷ USD) vào năm 2030. Đồng thời, giai đoạn phục hồi kinh tế hậu đại dịch Covid-19 (sau khi GDP toàn cầu năm 2020 sụt giảm 4,5%, làm mất gần 2,96 nghìn tỷ USD sản lượng kinh tế) đã thúc đẩy hành vi tiêu dùng chuyển dịch mạnh mẽ sang không gian trực tuyến. Nghiên cứu của Meta ghi nhận 45% người tiêu dùng thường xuyên mua sắm trên các nền tảng thương mại điện tử (TMĐT) sau khi xem thông tin trên Facebook/Instagram và 20% mua hàng trực tiếp trên Facebook.

Tại Việt Nam, doanh thu TMĐT năm 2023 ước đạt 20,5 tỷ USD (theo Bộ Công Thương), và Báo cáo Chỉ số Thương mại điện tử (EBI) năm 2022 của Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM) chỉ ra có tới 57% doanh nghiệp sử dụng các hình thức kinh doanh trên mạng xã hội (MXH) trong năm 2021. Về mặt pháp lý, Nghị định số 85/2021/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định số 52/2013/NĐ-CP) đã chính thức công nhận MXH là một trong những hình thức hoạt động của sàn giao dịch TMĐT khi đáp ứng các điều kiện luật định. Tuy nhiên, tính chất đa dạng, tương tác trực tiếp và xuyên biên giới của MXH dẫn đến nhiều rủi ro về hàng giả, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, rò rỉ dữ liệu cá nhân và thất thu thuế, đặt ra yêu cầu cấp thiết phải hoàn thiện khung pháp lý điều chỉnh.

Khóa luận xác định mục tiêu nghiên cứu cụ thể gồm 3 nhiệm vụ:

  1. Làm rõ những vấn đề lý luận về hoạt động TMĐT trên MXH và pháp luật điều chỉnh hoạt động TMĐT trên MXH.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về hoạt động TMĐT trên MXH ở Việt Nam hiện nay.
  3. Đề xuất định hướng, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật trong lĩnh vực này.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận pháp lý về hoạt động TMĐT trên MXH; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam; các quy định pháp luật quốc tế có liên quan; thực tiễn áp dụng pháp luật và các số liệu thống kê thực tế.
  • Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam, kết hợp khảo cứu kinh nghiệm pháp luật của Trung Quốc, Liên minh Châu Âu (EU) và Indonesia.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung vào các quy định pháp luật và dữ liệu thực tiễn thi hành trong giai đoạn từ năm 2013 đến đầu năm 2024.

Cơ sở pháp lý và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin, bám sát các chủ trương, đường lối phát triển kinh tế số của Đảng Cộng sản Việt Nam và chính sách pháp luật của Nhà nước.

Khung pháp lý tham chiếu:

  • Hệ thống pháp luật Việt Nam: Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về TMĐT; Nghị định số 85/2021/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Nghị định 52/2013/NĐ-CP; Nghị định số 72/2013/NĐ-CP về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng; Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 (có hiệu lực từ 01/07/2024); Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (có hiệu lực từ 01/07/2024); Bộ luật Dân sự năm 2015; Luật Thương mại năm 2005; Luật An ninh mạng năm 2018; Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung 2009, 2019, 2022); Nghị định số 98/2020/NĐ-CP, Nghị định số 17/2022/NĐ-CP, Nghị định số 38/2021/NĐ-CP, Nghị định số 17/2023/NĐ-CP.
  • Kinh nghiệm quốc tế: Luật Thương mại điện tử Trung Quốc năm 2018, Bộ luật Dân sự Trung Quốc năm 2020; Quy định Bảo vệ Dữ liệu Chung (GDPR) và Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số (DSA) của EU; Quy định cấm giao dịch TMĐT trên MXH của Indonesia (ban hành ngày 03/10/2023).

Phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ các khái niệm, thuộc tính pháp lý và phân loại các nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động TMĐT trên MXH.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các mô hình TMĐT truyền thống với TMĐT trên MXH; so sánh hệ thống pháp luật Việt Nam với các mô hình quản lý của Trung Quốc, EU và Indonesia.
  • Phương pháp thống kê số liệu: Khai thác các báo cáo chính thức từ Bộ Công Thương, Sách trắng TMĐT, Hiệp hội VECOM, Eurostat và Momentum Works để minh chứng cho các luận điểm.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng bảng khảo sát trực tuyến qua Google Forms nhằm thu thập dữ liệu về mức độ hiểu biết và nhận thức pháp luật của các chủ thể tham gia giao dịch TMĐT trên MXH.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Khái quát về hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội và pháp luật về hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội

Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lý luận nền tảng:

  • Định nghĩa: Trên cơ sở khái niệm MXH tại khoản 22 Điều 3 Nghị định 72/2013/NĐ-CP và hoạt động TMĐT tại khoản 1 Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP, tác giả đưa ra định nghĩa: Hoạt động TMĐT trên MXH là một dạng của hoạt động TMĐT, qua đó cá nhân, tổ chức tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình hoạt động thương mại bằng cách sử dụng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, chia sẻ thông tin, tạo trang thông tin cá nhân, diễn đàn, phòng trò chuyện, chia sẻ hình ảnh, âm thanh trên nền tảng mạng xã hội.
  • Phân biệt TMĐT thông thường và TMĐT trên MXH:
Tiêu chí phân biệt Hoạt động TMĐT thông thường Hoạt động TMĐT trên mạng xã hội
Nội dung thông tin, dữ liệu Đăng tải trực tiếp thông số kỹ thuật, tên, đơn vị, giá cả hàng hóa/dịch vụ theo biểu mẫu có sẵn. Thông tin lồng ghép linh hoạt trong nội dung sáng tạo (content), bài viết, hình ảnh, video giải trí.
Chức năng đặt hàng trực tuyến Tích hợp sẵn quy trình giỏ hàng, xác nhận đơn, thanh toán tự động (Shopee, Lazada, Tiki...). Phân hóa: Một số tích hợp đặt hàng trực tiếp (TikTok Shop), phần lớn còn lại qua thương lượng, nhắn tin (Facebook Marketplace, Zalo Shop).
Chức năng bổ trợ Tập trung vào danh mục sản phẩm, tìm kiếm thông số và đánh giá giao dịch. Kết hợp chức năng giới thiệu doanh nghiệp, xây dựng hình ảnh cá nhân và tương tác mạng lưới xã hội.
  • Vai trò: Phân tích lợi ích đa chiều đối với Nhà nước (quản lý, giám sát, số hóa thủ tục), Doanh nghiệp (tối ưu chi phí mặt bằng/nhân sự, mở rộng tệp khách hàng), Người tiêu dùng (tiết kiệm thời gian, tiếp cận nguồn hàng phong phú) và Đơn vị cung cấp nền tảng MXH (tăng trưởng doanh thu quảng cáo/phí giao dịch).
  • Pháp luật về hoạt động TMĐT trên MXH: Gồm 4 nhóm quy định cốt lõi: (1) Quy định về chủ thể; (2) Quy định về hợp đồng điện tử; (3) Quy định về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ; (4) Quy định về xử lý vi phạm pháp luật.
  • Yếu tố ảnh hưởng: Xác định 5 yếu tố tác động: Đường lối chính sách của Đảng/Nhà nước; Điều kiện kinh tế - xã hội; Cơ sở hạ tầng công nghệ; Nhận thức của các chủ thể; Yêu cầu hội nhập quốc tế.
  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • Trung Quốc: Ban hành hơn 140 văn bản luật về Internet trong 30 năm; Luật TMĐT 2018 kiểm soát độc quyền nền tảng và tích hợp mạnh mẽ trên WeChat Stores, Douyin (nơi có 23% người dùng mua các thương hiệu mới).
    • Liên minh Châu Âu (EU): Quy định minh bạch thông tin tài trợ, bắt buộc quyền đổi trả trong 14 ngày, áp dụng chế tài nghiêm khắc theo GDPR và DSA (điển hình là án phạt 390 triệu Euro đối với Tập đoàn Meta năm 2023).
    • Indonesia: Ban hành quy định cấm bán hàng trực tiếp trên MXH từ ngày 03/10/2023, tách rời nền tảng MXH khỏi TMĐT nhằm bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước trước sự thâm nhập của hàng hóa giá rẻ nước ngoài.

Chương 2: Thực trạng pháp luật về hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng văn bản và thực tiễn thi hành:

  • Quy định về chủ thể tham gia:
    • Bên bán (Thương nhân/Cá nhân kinh doanh): Trách nhiệm cung cấp thông tin minh bạch về hàng hóa, điều kiện giao dịch chung, chính sách bảo hành, thu hồi sản phẩm khuyết tật (theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2010/2023) và bảo mật thông tin cá nhân (Điều 68 - 72 Nghị định 52/2013/NĐ-CP).
    • Bên mua (Người tiêu dùng): Được mở rộng quyền bảo vệ trên không gian mạng và giao dịch từ xa theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 (bổ sung tiêu chí "không vì mục đích thương mại"); đồng thời gánh vác nghĩa vụ kiểm tra nguồn gốc, tuân thủ hướng dẫn và chịu trách nhiệm về thông tin cá nhân cung cấp.
    • Nền tảng MXH (Bên cung cấp dịch vụ): Theo Nghị định 85/2021/NĐ-CP, MXH trở thành sàn TMĐT khi cho phép người dùng mở gian hàng, mở tài khoản giao kết hợp đồng hoặc có chuyên mục mua bán có trả phí. Nền tảng có nghĩa vụ lưu trữ dữ liệu, gỡ bỏ thông tin vi phạm trong vòng 24 giờ kể từ khi có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền, chỉ định đầu mối tiếp nhận giải quyết tranh chấp và đại diện thông báo nghĩa vụ thuế cho thương nhân nước ngoài.
    • Trách nhiệm quản lý nhà nước: Phân định rõ thẩm quyền phối hợp liên ngành giữa Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài chính (kết nối dữ liệu thuế), Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Bộ Công an (an ninh mạng).
  • Quy định về hợp đồng TMĐT trên MXH: So sánh sự phát triển từ Luật Giao dịch điện tử 2005 đến Luật Giao dịch điện tử 2023. Luật năm 2023 đã công nhận giá trị pháp lý của hợp đồng được thiết lập thông qua sự tương tác giữa các hệ thống thông tin tự động, không bị phủ nhận chỉ vì không có sự can thiệp trực tiếp của con người.
  • Những bất cập, hạn chế pháp lý được nhận diện:
    1. Lỗ hổng bảo vệ dữ liệu sinh trắc học: Chưa có quy định chuyên biệt điều chỉnh việc thu thập, lưu trữ và bảo vệ dữ liệu nhận diện khuôn mặt, vân tay, mống mắt dùng trong xác thực thanh toán trên các ứng dụng MXH.
    2. Thiếu quy định về trách nhiệm pháp lý của Trí tuệ nhân tạo (Chatbot): Pháp luật chưa xác định rõ tư cách và chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường khi E-commerce Chatbot đưa ra thông tin tư vấn sai lệch gây thiệt hại cho người tiêu dùng.
    3. Tư cách pháp lý của nền tảng trong quan hệ hợp đồng: Nền tảng MXH tham gia vào quy trình giao kết nhưng pháp luật hợp đồng hiện hành mới chỉ tập trung ràng buộc hai bên (bên đề nghị và bên được đề nghị giao kết).
  • Thực tiễn thi hành: Đánh giá số liệu tiếp nhận hồ sơ trên Cổng thông tin Quản lý hoạt động TMĐT và kết quả khảo sát nhận thức (Google Forms - Hình 10), cho thấy tỷ lệ vi phạm về buôn bán hàng giả, hàng nhái, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ và trốn thuế trên các nền tảng MXH vẫn diễn biến phức tạp.

Chương 3: Hoàn thiện pháp luật về hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp toàn diện:

  • Định hướng hoàn thiện: Xây dựng khung pháp lý đồng bộ, tạo môi trường kinh doanh số minh bạch, khuyến khích đổi mới sáng tạo song song với việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và giữ vững chủ quyền dữ liệu quốc gia.
  • Kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:
    • Bổ sung các quy định cụ thể về bảo vệ dữ liệu cá nhân nhạy cảm (dữ liệu sinh trắc học) trong các giao dịch TMĐT tích hợp trên MXH.
    • Ban hành quy chế pháp lý xác định nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại đối với các hành vi phát sinh từ hệ thống tư vấn tự động (E-commerce Chatbot/AI).
    • Hoàn thiện quy định về hợp đồng điện tử 3 bên, làm rõ trách nhiệm liên đới của nhà cung cấp nền tảng MXH khi có lỗi trong khâu trung gian giao dịch.
    • Sửa đổi, tăng mức chế tài xử phạt vi phạm hành chính trong các Nghị định xử phạt (Nghị định 98/2020/NĐ-CP, Nghị định 17/2022/NĐ-CP, Nghị định 38/2021/NĐ-CP) để đảm bảo tính răn đe đối với các hành vi bán hàng giả, gian lận thương mại và vi phạm bản quyền trên MXH.
  • Giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật:
    • Tăng cường cơ chế chia sẻ cơ sở dữ liệu dùng chung và phối hợp liên ngành thời gian thực giữa Bộ Công Thương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Tổng cục Thuế (Bộ Tài chính) và Cục An ninh mạng (Bộ Công an).
    • Đầu tư nâng cấp hạ tầng công nghệ, ứng dụng công cụ giám sát thông minh (AI, Big Data) nhằm phát hiện sớm các dấu hiệu vi phạm trên không gian mạng.
    • Đẩy mạnh công tác truyền thông, phổ biến kiến thức pháp luật và kỹ năng tiêu dùng an toàn cho người dân khi tham gia mua bán trên MXH.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa lý luận: Công trình đã xây dựng khái niệm hoàn chỉnh về hoạt động TMĐT trên MXH và pháp luật điều chỉnh hoạt động này, đồng thời phân tích rõ các thuộc tính đặc thù phân biệt giữa TMĐT trên MXH và TMĐT truyền thống.
  • Phân tích thực trạng toàn diện: Khóa luận đã phân tích chi tiết quyền và nghĩa vụ của 4 nhóm chủ thể (bên bán, bên mua, đơn vị cung cấp nền tảng MXH và cơ quan quản lý nhà nước), cập nhật các điểm mới trong Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 (cùng có hiệu lực từ 01/07/2024).
  • Phát hiện những lỗ hổng pháp lý mới: Đóng góp đáng chú ý của nghiên cứu là đã chỉ ra 2 vấn đề pháp lý mang tính thời sự trong kỷ nguyên số mà hệ thống văn bản hiện hành chưa điều chỉnh thỏa đáng: (1) Rủi ro an toàn thông tin đối với dữ liệu sinh trắc học người dùng; (2) Trách nhiệm pháp lý đối với nội dung thông tin do E-commerce Chatbots tạo ra.
  • Đề xuất giải pháp có tính khả thi: Đưa ra hệ thống kiến nghị lập pháp cụ thể kèm theo các giải pháp phối hợp liên ngành và ứng dụng công nghệ trong thanh tra, kiểm tra.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu được hoàn thành vào tháng 5/2024, tại thời điểm các văn bản luật mới quan trọng như Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 chưa chính thức phát sinh hiệu lực thi hành thực tế (hiệu lực từ 01/07/2024). Do đó, các phân tích về tác động thực tế của hai đạo luật này chủ yếu dừng lại ở góc độ phân tích quy phạm dự báo. Mặt khác, phạm vi khảo sát xã hội học qua Google Forms mới ở quy mô sơ bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Đánh giá hiệu quả thực thi thực tế của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2023 và Luật Giao dịch điện tử 2023 sau khi đi vào đời sống; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR) và khung trách nhiệm dân sự đối với các hệ thống AI tự trị trong giao dịch thương mại số xuyên biên giới.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Thương mại quốc tế, Quản trị Kinh doanh, Thương mại điện tử; các chuyên viên pháp chế tại các doanh nghiệp kinh doanh số và các nhà quản trị sàn TMĐT.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Bảng đối chiếu đặc điểm giữa TMĐT truyền thống và TMĐT trên MXH tại Chương 1.
    • Hệ thống hóa căn cứ pháp lý về điều kiện xác định MXH là sàn TMĐT và trách nhiệm gỡ bỏ vi phạm trong 24 giờ của nền tảng tại Chương 2.
    • Bài học lập pháp từ 3 mô hình quản lý quốc tế: kiểm soát tập trung (Trung Quốc), bảo vệ quyền riêng tư nghiêm ngặt (EU), và biện pháp bảo hộ sản xuất trong nước (Indonesia).

Câu hỏi thường gặp

1. Theo Nghị định số 85/2021/NĐ-CP, mạng xã hội phải đáp ứng điều kiện nào để bị xác định là sàn giao dịch thương mại điện tử?

Mạng xã hội được xác định là sàn giao dịch TMĐT khi cho phép người tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp trả phí để thực hiện ít nhất một trong ba hoạt động: (1) Mở gian hàng trưng bày, giới thiệu hàng hóa/dịch vụ; (2) Mở tài khoản để tiến hành quy trình giao kết hợp đồng với khách hàng; (3) Có chuyên mục mua bán cho phép đăng tin giao dịch hàng hóa và dịch vụ.

2. Nền tảng mạng xã hội có trách nhiệm gì khi nhận được yêu cầu xử lý thông tin vi phạm từ cơ quan nhà nước?

Theo điểm a khoản 16 Điều 1 Nghị định số 85/2021/NĐ-CP, nền tảng MXH có nghĩa vụ phải gỡ bỏ thông tin về hàng hóa, dịch vụ vi phạm pháp luật trong vòng 24 giờ kể từ khi nhận được yêu cầu từ cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền; đồng thời phải chỉ định đầu mối tiếp nhận và cung cấp thông tin phục vụ công tác thanh tra, kiểm tra trong cùng thời hạn 24 giờ.

3. Luật Giao dịch điện tử năm 2023 đã bổ sung quy định mới nào về giá trị pháp lý của hợp đồng tự động?

Luật Giao dịch điện tử năm 2023 quy định hợp đồng điện tử được giao kết hoặc thực hiện từ sự tương tác giữa một hệ thống thông tin tự động với con người, hoặc giữa các hệ thống thông tin tự động với nhau, không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì lý do không có sự kiểm tra hay can thiệp trực tiếp của con người vào từng hành động cụ thể.

4. Mô hình quản lý hoạt động TMĐT trên mạng xã hội của Indonesia có điểm gì khác biệt so với các quốc gia khác?

Indonesia là quốc gia áp dụng chính sách cấm hoàn toàn hoạt động giao dịch, mua bán hàng hóa trực tiếp trên các nền tảng MXH (quy định có hiệu lực từ ngày 03/10/2023). Pháp luật Indonesia chỉ cho phép MXH thực hiện chức năng quảng cáo, tiếp thị nhằm mục đích tách biệt rõ ràng giữa mạng xã hội và thương mại điện tử để bảo vệ các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước.

5. Khóa luận chỉ ra hai khoảng trống pháp lý nổi bật nào về công nghệ mới trong TMĐT trên mạng xã hội?

Hai khoảng trống pháp lý nổi bật gồm: (1) Chưa có quy định cụ thể về cơ chế thu thập và bảo vệ an toàn đối với dữ liệu sinh trắc học (nhận diện khuôn mặt, vân tay, mống mắt) khi xác thực giao dịch; (2) Chưa xác định rõ tư cách pháp lý và trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi công nghệ Trí tuệ nhân tạo (E-commerce Chatbot) đưa ra thông tin tư vấn sai lệch cho khách hàng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Minh Hiếu đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và đánh giá sâu sắc thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội tại Việt Nam. Công trình đã phân tích thấu đáo quyền, nghĩa vụ của các nhóm chủ thể, đối chiếu các điểm mới của hệ thống luật ban hành năm 2023 và tham khảo kinh nghiệm quốc tế từ Trung Quốc, EU và Indonesia. Các giải pháp và kiến nghị hoàn thiện pháp luật được đề xuất bám sát thực tiễn phát triển của nền kinh tế số, mang lại giá trị tham khảo học thuật và ứng dụng lập pháp thiết thực.