CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG KINH DOANH DỊCH VỤ PHẪU THUẬT THẨM MỸ 1. Tổng quan về kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ 1. Khái niệm phẫu thuật thẩm mỹ Phẫu thuật thẩm mỹ (PTTM) (tên tiếng anh: cosmetic surgery) là một khái niệm được ghép bởi hai từ phẫu thuật và thẩm mỹ. Trong đó, “thẩm mỹ” được hiểu là “khả năng cảm thụ và hiểu biết về cái đẹp” 1, còn phẫu thuật được hiểu là (phẫu: mổ, xẻ; thuật: phương pháp, phép) “trị bệnh bằng cách mổ xẻ2”.
Từ cách tiếp cận này có thể hiểu PTTM là hoạt động vừa mang tính thẩm mỹ, vừa mang tính y học, bằng việc sử dụng các kỹ thuật y học can thiệp (phẫu thuật) vào cơ thể con người làm cho họ trở nên đẹp hơn. Về mặt y học, PTTM là một loại phẫu thuật được thực hiện nhằm mục đích định hình lại hoặc thay đổi cải thiện diện mạo của một hoặc một số bộ phận trên cơ thể người. Loại phẫu thuật này thường được thực hiện theo yêu cầu của khách hàng dưới sự tư vấn, góp ý của chuyên gia, bác sĩ thẩm mỹ. PTTM có thể được chia thành hai loại gồm phẫu thuật tạo hình và PTTM; trong đó phẫu thuật tạo hình là nhằm mục đích tái cấu trúc một bộ phận của cơ thể hoặc cải thiện chức năng của nó, còn PTTM nhằm mục đích cải thiện vẻ ngoài3.
Từ cách tiếp cận nêu trên có thể hiểu, PTTM là hoạt động làm đẹp trong đó sử dụng các kỹ thuật y học tác động vào các bộ phận cơ thể của con người làm thay đổi hình dáng, cấu trúc, màu sắc làm cho con người trở nên đẹp hơn. Khái niệm kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ Kinh doanh theo nghĩa thông thường được hiểu là tổ chức việc sản xuất, mua bán hàng hóa, dịch vụ nhằm sinh lời4. Kinh doanh dịch vụ được hiểu là hoạt động thực hiện một loại hình dịch vụ dưới dạng nghĩa vụ và được hưởng thù lao tương xứng cho việc thực hiện loại hình dịch vụ đó, đây là cách hiểu chung cho hầu hết các 1 Nguyễn Như Ý (2013), Đại từ điển tiếng Việt (tái bản lần thứ 13), Nxb. Đại học Quốc gia Tp.
Hồ Chí Minh, tr. 2 Hoàng phê (2010), Từ điển tiếng việt (tái bản), Nxb. Từ điển bách khoa, tr. 3 Hoàng Lê Khánh Linh, “Khái niệm về kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ”, https://luatminhkhue.vn/ khai-niem-ve-kinh-doanh-dich-vu-phau-thuat-tham-my.aspx, truy cập ngày 01/04/2023.
4 Viện Ngôn ngữ học (2002), Từ điển Tiếng Việt phổ thông, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, tr. 13 loại hình kinh doanh dịch vụ trong thực tế hiện nay, do đó nó cũng được sử dụng để giải thích cho loại hình kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ5 (KDDVPTTM). KDDVPTTM là một loại hình kinh doanh khá phổ biến trong thực tế cuộc sống, tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một khái niệm chính thức, rõ ràng về hoạt động KDDVPTTM.
Theo quy định tại Khoản 20 Điều 3 Nghị định số 96/2016/NĐ- CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, có đưa ra khái niệm về KDDVPTTM như sau: “KDDVPTTM gồm: Sử dụng dụng kỹ thuật y học để phẫu thuật (giải phẫu) làm thay đổi hình dáng, đặc điểm nhận dạng của con người.” 6 Có thể thấy rằng, cách đưa ra khái niệm này thực chất giống với khái niệm PTTM vì nó không chỉ ra ai là chủ thể cung cấp dịch vụ cũng như mục đích chính của việc kinh doanh. Điều này dẫn đến không ít khó khăn trong việc nhận dạng hoạt động KDDVPTTM cũng như việc xác định chủ thể nào được phép và không được phép kinh doanh dịch vụ này, từ đó làm cho người tiêu dùng (NTD) lúng túng trong việc xác định và đưa ra được lựa chọn tốt nhất cho bản thân khi có nhu cầu sử dụng dịch vụ. Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến quyền lợi của NTD trong lĩnh vực PTTM thường xuyên bị vi phạm và đôi khi xảy ra những hậu quả đáng tiếc không thể khắc phục được. Theo đó, chủ thể nào đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định thì đều có quyền kinh doanh cung cấp dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ (DVPTTM) cho người có nhu cầu nhằm mục đích sinh lợi.
Dựa vào bản chất hoạt động, có thể hiểu KDDVPTTM là hoạt động của chủ thể kinh doanh khi họ thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động liên quan đến DVPTTM như quảng cáo, tìm kiếm khách hàng, tư vấn, ký kết hợp đồng, phẫu thuật, chăm sóc sau phẫu thuật… cho khách hàng nhằm mục đích sinh lợi. Việc KDDVPTTM phải đáp ứng các điều kiện về quyền và nghĩa vụ của các bên, trong đó bên kinh doanh phải thực hiện công việc PTTM một cách an toàn, chất lượng đúng như cam kết và được nhận thanh toán từ phía khách hàng theo thỏa thuận phù hợp các điều kiện của pháp luật về cung ứng dịch vụ. Hiểu một cách đơn giản, KDDVPTTM là hoạt động của chủ thể kinh doanh cung ứng dịch vụ làm đẹp cho NTD thông qua việc sử dụng kỹ thuật y học 5 Trần Linh Huân (2018), Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr.
6 Khoản 20, Điều 3 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định về an ninh, trật tự đối với một số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. 14 tác động vào các bộ phận cơ thể con người giúp cho NTD trở nên đẹp hơn nhằm mục đích sinh lợi. Đặc điểm kinh doanh dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ Hoạt động KDDVPTTM về bản chất cũng là một dạng hoạt động kinh doanh dịch vụ, do đó hoạt động kinh doanh này có một số đặc điểm sau: Một là, kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ là hoạt động kinh doanh có điều kiện. Khác với các loại hình kinh doanh thông thường khác, việc kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ là việc cung cấp một loại hình dịch vụ có khả năng tác động trực tiếp đến sức khỏe, tính mạng của con người, do đó để kinh doanh được loại hình dịch vụ này đòi hỏi các chủ thể cần phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định.
Tại mục 180 Phụ lục IV ban hành kèm theo Luật Đầu tư năm 2020, kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ đã được xác định là một trong những ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Theo đó, để được phép KDDVPTTM đòi hỏi các chủ thể có nhu cầu kinh doanh phải đảm bảo đáp ứng được các điều kiện do pháp luật quy định. Đối với các cơ sở khám chữa bệnh muốn cung cấp DVPTTM thì cần phải có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Nhà nước thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác; có giấy phép hoạt động do Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp 7. Các DVPTTM có sử dụng thuốc, các chất, thiết bị để can thiệp vào cơ thể người (phẫu thuật, thủ thuật, các can thiệp có tiêm, chích, bơm, chiếu tia, sóng, đốt hoặc các can thiệp xâm lấn khác) làm thay đổi màu sắc da, hình dạng, cân nặng, khiếm khuyết của các bộ phận trên cơ thể (da, mũi, mắt, môi, khuôn mặt, ngực, bụng, mông và các bộ phận khác trên cơ thể người), xăm, phun, thêu trên da có sử dụng thuốc gây tê dạng tiêm chỉ được thực hiện tại bệnh viện có chuyên khoa thẩm mỹ hoặc phòng khám chuyên khoa thẩm mỹ hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có phạm vi hoạt động chuyên môn về chuyên khoa thẩm mỹ tùy theo phạm vi hoạt động chuyên môn được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt8.
Người chịu trách nhiệm về an ninh, trật tự của cơ sở kinh doanh PTTM phải không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 7 Điều 42 Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009. 8 Khoản 2 Điều 37 Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/07/2016 của Chính phủ quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Đồng thời, cơ sở KDDVPTTM còn phải đảm bảo đáp ứng đủ điều kiện về an toàn phòng cháy và chữa cháy theo quy định của pháp luật về phòng cháy và chữa cháy9, cũng như phải thực hiện đầy đủ các trách nhiệm đặt ra tại Điều 41 Nghị định số 96/2016/NĐ-CP. Ngoài ra, để có thể KDDVPTTM, các chủ thể còn phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế, nhân sự.
Như vậy, có thể thấy rằng, KDDVPTTM là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện, các chủ thể muốn được kinh doanh loại hình dịch vụ này thì phải đáp ứng được đầy đủ các điều kiện do pháp luật quy định. Hai là, KDDVPTTM là hoạt động kinh doanh mang tính rủi ro cao. So với các loại hình dịch vụ khác, DVPTTM có tác động trực tiếp đến cơ thể của người sử dụng dịch vụ do đó luôn tiềm ẩn nhiều nguy cơ rủi ro cao. Mặc dù ngành y tế luôn nghiên cứu, tìm kiếm và đưa những phương pháp phẫu thuật mới an toàn hơn cho người được phẫu thuật tuy nhiên cũng không thể nào loại bỏ hoàn toàn những rủi ro như: sốc phản vệ, chảy máu, tắc mạch, hoại tử, nhiễm trùng, biến chứng,… Trên thực tế, đã có rất nhiều vụ việc phát sinh rủi ro xảy ra cho NTD trong quá trình sử dụng DVPTTM được cung cấp bởi các chủ thể kinh doanh cung cấp dịch vụ.
Các rủi ro phát sinh trong quá trình cung cấp dịch vụ không chỉ xảy ra đối với NTD sử dụng dịch vụ mà còn xảy ra với cả chủ thể KDDVPTTM. Bởi trên thực tế, rủi ro thường xảy ra với NTD vì họ là người chịu sự can thiệp trực tiếp vào cơ thể tuy nhiên khi rủi ro xảy ra với NTD thì nó cũng đồng thời xảy đến với chủ thể cung cấp dịch vụ vì việc cung cấp dịch đúng chất lượng và an toàn cũng là nghĩa vụ của bên cung cấp dịch vụ. Đối với NTD, khi sử dụng DVPTTM có thể đối diện với những rủi ro như kết quả sau phẫu thuật không được đẹp như mong muốn, xấu hơn hoặc để lại sẹo, thậm chí có thể để lại di chứng suốt đời, hoặc nghiêm trọng hơn có thể bị tử vong.