Chương 1: Cơ sở lý luận về vai trò của BHTG trong việc bảo vệ người gửi tiền. - Chương 2: Thực trạng vai trò của BHTGVN trong việc bảo vệ người gửi tiền. - Chương 3: Giải pháp nâng cao vai trò của BHTGVN trong việc bảo vệ người gửi tiền. 9 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA BẢO HIỂM TIỀN GỬI TRONG VIỆC BẢO VỆ NGƢỜI GỬI TIỀN 1.
Tổng quan về hoạt động bảo hiểm tiền gửi 1. Khái niệm về bảo hiểm tiền gửi Hoạt động tài chính ngân hàng luôn tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao. Để tránh xảy ra đổ vỡ ngân hàng, ổn định trật tự xã hội thì các quốc gia đều cần có một tổ chức giữ vai trò bảo vệ người gửi tiền. Vì vậy, từ rất lâu, khái niệm BHTG đã được hình thành.
Khi hệ thống BHTG chưa được ra đời công khai thì các quốc gia dùng hình thức “bảo hiểm ngầm”, hình thức này có nghĩa là Chính phủ sẽ phải thực hiện chi trả tiền gửi cho người gửi tiền khi ngân hàng đỗ vỡ dù không có bất kỳ cam kết công khai nào về việc bảo vệ người gửi tiền. Tuy nhiên, hình thức này chưa thực sự mang lại hiệu quả và chưa tạo dựng được niềm tin của công chúng, do đó hình thức BHTG công khai được ra đời. Tại Mỹ, sau hàng loạt các vụ vỡ nợ ngân hàng, Công ty BHTG liên bang Hoa Kỳ (FDIC) được thành lập vào năm 1933. Đây được xem là mô hình BHTG công khai đầu tiên trên thế giới.
FDIC là cơ quan của Chính phủ, thực hiện nhiệm vụ bảo hiểm đối với tất cả hoạt động hệ thống ngân hàng của Mỹ. Sau khi FDIC ra đời, đến nay đã có gần 150 quốc gia trên thế giới thành lập tổ chức BHTG. Ngày 06 5 2002, Hiệp hội BHTG Quốc tế (IADI) được thành lập với sự tham gia của nhiều hệ thống BHTG trên thế giới. IADI có trụ sở tại Thụy Sỹ.
Tính đến hiện tại, IADI đã có 83 tổ chức thành viên. Điều này đã khẳng định tầm quan trọng của BHTG trong việc kiểm soát hoạt động tài chính ngân hàng và bảo vệ người gửi tiền của các nước trên thế giới. Theo IADI, BHTG được hiểu là “một hệ thống được thiết lập để bảo vệ người gửi tiền khỏi những tổn 10 thất về tiền gửi được bảo hiểm của họ trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi không thể hoàn thành các nghĩa vụ nợ theo cam kết đối với người gửi tiền”. Khái niệm BHTG thường được định nghĩa, giải thích tại Luật BHTG của một số nước như Canada, Đài Loan (Trung Quốc), cụ thể: Theo Luật BHTG Canada (tháng 02 2011) có giải thích “BHTG là bảo hiểm cho những tổn thất một phần hoặc toàn bộ tiền gửi” [19].
Trong Luật BHTG của Đài Loan năm 2010, BHTG có nghĩa là “một loại hình bảo hiểm mà đối tượng được bảo hiểm là các loại tiền gửi trên lãnh thổ Đài Loan, bao gồm: tiền gửi vãng lai, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tại các tổ chức tài chính theo quy định của pháp luật, các loại tiền gửi khác được các cơ quan có thẩm quyền công nhận là có thể được bảo hiểm … không bao gồm tiền gửi tại chi nhánh ở nước ngoài của các ngân hàng” [20]. Tại một số nước như Hàn Quốc, Liên bang Nga, Indonexia thì Luật BHTG không có nêu cụ thể khái niệm BHTG mà chỉ đưa ra các quy định về cơ cấu tổ chức, hoạt động của cơ quan BHTG. Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 4 Luật BHTG 2012 có quy định: “Bảo hiểm tiền gửi là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”. Như vậy, BHTG có thể được hiểu là một xác nhận công khai của tổ chức BHTG về việc sẽ hoàn trả toàn bộ hoặc một phần số tiền gửi được bảo hiểm (cả gốc và lãi) cho người gửi tiền khi cơ quan chức năng xác định tổ chức tham gia BHTG mất khả năng thanh toán hoặc chấm dứt hoạt động.
Cam kết này sẽ có 3 bên tham gia: tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG và người gửi tiền. Khái niệm về tổ chức bảo hiểm tiền gửi, tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi và người gửi tiền * Tổ chức BHTG là tổ chức tài chính được giao thực hiện chính sách 11 công về BHTG; “là đối tác nhận đóng góp tài chính từ tổ chức tham gia BHTG và có trách nhiệm thực hiện chi trả tiền gửi được bảo hiểm đến người gửi tiền thuộc đối tượng bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG khi tổ chức đó chấm dứt hoạt động và mất khả năng thanh toán” [46, tr18]. Theo Luật BHTG Việt Nam, tổ chức BHTG là “tổ chức tài chính nhà nước, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, thực hiện chính sách bảo hiểm tiền gửi, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống các tổ chức tín dụng, bảo đảm sự phát triển an toàn, lành mạnh của hoạt động ngân hàng”. Hiện nay, BHTGVN là tổ chức BHTG duy nhất tại Việt Nam.
* Các tổ chức được cấp phép hoạt động ngân hàng được nhận tiền gửi của dân chúng phải tham gia BHTG bắt buộc theo quy định. Các tổ chức này được gọi là tổ chức tham gia BHTG. Tại Khoản 3 Điều 4 Luật BHTG Việt Nam có quy định: “Tổ chức tham gia BHTG là TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thành lập và hoạt động theo Luật các TCTD được nhận tiền gửi của cá nhân”. Theo Điều 4 Nghị định số 68 2013 NĐ-CP ngày 28 6 2013 của Chính phủ hướng dẫn thi hành Luật BHTG thì: 1.
Tổ chức tham gia BHTG là các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân, bao gồm NHTM, ngân hàng hợp tác xã, Quỹ tín dụng nhân dân và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật các TCTD; 2. Tổ chức tài chính vi mô phải tham gia BHTG đối với tiền gửi của cá nhân bao gồm cả tiền gửi tự nguyện của khách hàng tài chính vi mô, trừ tiền gửi tiết kiệm bắt buộc theo quy định của tổ chức tài chính vi mô; 3. Ngân hàng chính sách không phải tham gia BHTG [8]. Như vậy, các tổ chức phải tham gia BHTG ở Việt Nam gồm: NHTM, Ngân hàng Hợp tác xã, Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND), tổ chức tài chính vi mô và chi nhánh ngân hàng nước ngoài được nhận tiền gửi của cá nhân.
12 * Hiện nay, khái niệm chính thức về người gửi tiền vẫn chưa được định nghĩa hay quy định cụ thể tại bất kỳ văn bản nào. Theo cách hiểu thông thường thì người gửi tiền có thể là cá nhân hoặc tổ chức thực hiện giao dịch liên quan đến tiền gửi tại TCTD theo quy định của pháp luật phù hợp với mục đích của khách hàng (tiết kiệm hoặc thanh toán). Để đảm bảo hoạt động diễn ra ổn định và phát triển, việc thu hút nguồn tiền từ người gửi tiền luôn được các TCTD quan tâm. Bởi vậy, đây là đối tượng quan trọng mà các TCTD hướng tới.
Theo Điều 3 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN ngày 31/12/2018 của NHNN, Người gửi tiền là: Công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật; Công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc không mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật; Công dân Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của pháp luật hoặc chưa đủ 15 tuổi thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người đại diện theo pháp luật; Công dân Việt Nam có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi theo quy định của pháp luật thực hiện giao dịch tiền gửi tiết kiệm thông qua người giám hộ [29]. Tùy từng quốc gia sẽ có những tiêu chí để xác định đối tượng tham gia BHTG, loại tiền, chủ thể gửi, mục đích gửi tiền của chủ thể. Vì thế, đối tượng được bảo hiểm của từng quốc gia cũng có thể sẽ khác nhau nhưng phần lớn đều thực hiện BHTG của chủ thể là cá nhân. Bởi đây là đối tượng nhỏ lẻ, thường không có thông tin hoặc ít có điều kiện tiếp cận với các thông tin về tài chính ngân hàng so với đối tượng là tổ chức và các khoản tiền tiết kiệm ít ỏi chính là mồ hôi công sức để đảm bảo an sinh đời sống của họ.
Tại Việt Nam, theo Khoản 2 Điều 4 Luật BHTG thì “người được BHTG là cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG”. 13 Tiền gửi được bảo hiểm được quy định tại Luật BHTG Việt Nam là “tiền gửi bằng đồng Việt Nam của cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG dưới hình thức tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức tiền gửi khác theo quy định của Luật các TCTD …”, trừ các loại tiền gửi của cá nhân sở hữu trên 5% vốn điều lệ tại chính TCTD, người quản trị, điều hành, kiểm soát của TCTD đó, tiền mua các giấy tờ có giá vô danh do tổ chức tham gia BHTG phát hành. * Các cá nhân, tổ chức mua và/hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ để phục vụ cho nhu cầu đời sống được gọi là người tiêu dùng. Đối tượng này có Luật Bảo vệ người tiêu dùng.
Bởi vậy, đối với người tiêu dùng trong lĩnh vực ngân hàng hay còn gọi là người gửi tiền cũng cần bảo vệ để đảm bảo quyền và lợi ích. Hiện nay, để đảm bảo số tiền gửi tại TCTD của mình được an toàn và sinh lời cao nhất thì người gửi tiền có rất nhiều sự lựa chọn nên tính cạnh tranh của các TCTD trở nên sôi động hơn bao giờ hết. Bởi vậy Luật BHTG chính là công cụ để bảo vệ những người gửi tiền. Nhờ có BHTG, người gửi tiền sẽ được bảo hiểm số tiền gửi tại các TCTD có tham gia BHTG và được nhận tiền bảo hiểm đầy đủ theo quy định nếu TCTD gặp rủi ro.
Qua đó, những người gửi tiền nhỏ, lẻ, hạn chế thông tin về tài chính ngân hàng chắc chắn sẽ không mất một đồng nào mồ hôi công sức mà họ đã dành dụm.