CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG LĨNH VỰC VẬN CHUYỂN HÀNH KHÁCH BẰNG ĐƯỜNG BỘ TUYẾN CỐ ĐỊNH LIÊN TỈNH 1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1. Khái niệm người tiêu dùng Trong những năm gần đây, khái niệm người tiêu dùng được sử dụng nhiều trong đời sống sinh hoạt cộng đồng, cũng như trong khoa học pháp lý ở nước ta, bởi người tiêu dùng là một trong những chủ thể trung tâm trong sự phát triển về mọi mặt của quốc gia, đặc biệt là sự phát triển của nền kinh tế. Hiểu được người tiêu dùng là ai, họ có vai trò thế nào đối với xã hội là một điều hết sức quan trọng, tạo nền tảng cơ bản đầu tiên trong việc xác định địa vị pháp lý cần thiết nhằm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Thông thường, người tiêu dùng được hiểu là người mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ của các cơ sở sản xuất, cung cấp dịch vụ, cửa hàng… cho nhu cầu, mục đích của mình. Có nhiều khái niệm về người tiêu dùng. Hiện nay, có hai cách hiểu khác nhau về người tiêu dùng: + Theo nghĩa hẹp, người tiêu dùng là các cá nhân, hộ gia đình, tổ chức mua hoặc sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của mình. Như vậy, người tiêu dùng bao gồm cả người mua hàng hóa (mua lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, quần áo, thiết bị máy móc, đồ dùng sinh hoạt, phương tiện đi lại.) và người sử dụng dịch vụ (dịch vụ bảo hiểm, vận tải, vui chơi, giải trí, khám chữa bệnh, sửa chữa, lắp đặt thiết bị.) + Theo nghĩa rộng, người tiêu dùng ngoài mục đích mua hàng hoá, sử dụng dịch vụ để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thì còn có thể phục vụ cho mục đích tái sản xuất kinh doanh (mua sản phẩm này để chế biến, sản xuất thành sản phẩm khác, ví dụ như mua vải để may thành quần, áo và mang đi bán).
12 Trong Hướng dẫn của Liên hợp quốc về bảo vệ người tiêu dùng ban hành từ năm 1985 và đã được hiệu chỉnh vào năm 1999, khái niệm người tiêu dùng không được giải thích một cách rõ ràng. Tuy nhiên, Hướng dẫn này lại quy định người tiêu dùng được hưởng 8 quyền sau đây[12]: - Quyền được thỏa mãn những nhu cầu cơ bản - Quyền được an toàn - Quyền được thông tin - Quyền được lựa chọn - Quyền được lắng nghe - Quyền được khiếu nại và bồi thường - Quyền được giáo dục, đào tạo về tiêu dùng - Quyền được có môi trường sống lành mạnh và bền vững [7, tr. Xem xét tổng thể nội dung của 8 quyền, có thể thấy đây chỉ có thể là các quyền mà chủ thể là cá nhân con người mới đầy đủ tư cách để thụ hưởng hay nói cách khác, khi chủ thể là tổ chức thì không được trao trọn vẹn 8 quyền này. Điều này có nghĩa trong quan niệm của Bản Hướng dẫn người tiêu dùng của Liên hợp quốc, nói tới người tiêu dùng là nói tới cá nhân (thể nhân) chứ không thể là pháp nhân.
Ở các nước châu Âu, khái niệm người tiêu dùng trong các văn bản pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng của Liên minh Châu Âu đã được giải thích trong Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm có liên quan (Directive 1999/44/EC of the European Parliament and of the Council of 25 May 1999 on certain aspects of the sale of consumer goods and associated guarantees). Chỉ thị này giải thích “người tiêu dùng là bất cứ tự nhiên nhân (tức là cá nhân) nào … tham gia vào các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này… vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình.539] Như vậy, khái niệm người tiêu dùng theo chỉ thị của Châu Âu bao gồm các đặc điểm sau: Là bất kỳ cá nhân nào mua hàng theo hợp đồng mà mục tiêu của hợp 13 đồng không liên quan đến thương mại, kinh doanh hay nghề nghiệp. Theo khái niệm này thì người tiêu dùng không bao gồm pháp nhân và không bao gồm người sử dụng, thụ hưởng hàng hóa dịch vụ mà không trực tiếp giao kết hợp đồng với nhà sản xuất, kinh doanh. Ở Canada, việc bảo vệ người tiêu dùng chủ yếu được quy định trong các đạo luật về bảo về người tiêu dùng của các bang ở quốc gia này.
Trong các đạo luật này, người tiêu dùng cũng chỉ được giải thích là các cá nhân. Chẳng hạn, Luật bảo vệ người tiêu dùng của Bang Quebec (Điều 1(e)) giải thích rõ “Người tiêu dùng là tự nhiên nhân (các nhân) nhưng không phải là thương nhân mua sắm hàng hóa, dịch vụ cho mục đích kinh doanh của mình”. Luật về bảo vệ người tiêu dùng và các hành vi kinh doanh của Bang British Columbia cũng quy định rõ tại Điều 1 “Người tiêu dùng là tự nhiên nhân (cá nhân) tham gia giao dịch tiêu dùng”…tức là tham gia giao dịch mua sắm hàng hóa, dịch vụ mục đích chủ yếu phục vụ nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sinh hoạt gia đình. Như vậy, pháp luật Canada không phân biệt các quan hệ phát sinh trực tiếp từ hợp đồng mua bán hàng hay thụ hưởng hàng hóa, dịch vụ từ người khác.
Theo pháp luật Malaysia, khái niệm người tiêu dùng tương đối chi tiết về mục đích sử dụng nhưng chỉ nói tới khái niệm “người” (person) mà không dùng từ cụ thể là thể nhân hay cá nhân như các nước nói trên. Việc quy định thiếu rõ ràng như vậy có khả năng dẫn tới hai cách hiểu khác nhau. Ngoài ra theo quy định của luật thì người tiêu dùng không chỉ là người trực tiếp mua sản phẩm hay thuê dịch mà bao gồm cả những người sử dụng hàng hóa dịch vụ không phụ thuộc vào hợp đồng giữa họ với nhà cung cấp. Theo pháp luật Thái Lan (Điều 3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng Thái Lan năm 1979) “người tiêu dùng là người mua hàng hóa hoặc dịch vụ hoặc được chào mua hàng hóa, tiêu thụ dịch vụ có nguồn gốc từ người kinh doanh mặc dù người này không trực tiếp trả tiền cho việc sử dụng hàng hóa, tiêu thụ dịch vụ đó” [13].
Trong khi đó, cũng tại điều khoản này, “người kinh doanh” được giải thích là người bán hàng, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu để bán hàng, người mua hàng để bán lại, người 14 cung cấp dịch vụ, người tiến hành việc quảng cáo”. Như vậy khái niệm tiêu dùng có thể bao gồm cả thể nhân và pháp nhân và họ phải là người mua hoặc sử dụng dịch vụ của nhà kinh doanh. Tuy quy định của Thái Lan không đề cập tới các chủ thể sử dụng hàng hóa dịch vụ nhưng không mua hàng hóa hay thuê dịch vụ đó có là người tiêu dùng hay không nhưng lại có sự mở rộng thêm cả giai đoạn được chào hàng hoặc được đề nghị mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ. Như vậy, tại thời điểm được nhà kinh doanh chào hàng hoặc đề nghị mua hàng, các chủ thể nói trên đã được coi là người tiêu dùng và được bảo vệ theo các quy định của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Theo pháp luật Trung Quốc (Điều 2 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1993) “Trường hợp người tiêu dùng, vì nhu cầu cuộc sống, mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ thì các quyền và lợi ích hợp pháp của mình sẽ được bảo vệ theo quy định của Luật này và trường hợp Luật này không quy định thì sẽ được bảo vệ theo các quy định khác có liên quan của pháp luật” [12]. Điều luật này đã hàm ý rằng, người tiêu dùng theo quan niệm của pháp luật Trung Quốc chỉ là cá nhân mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ vì nhu cầu sinh hoạt của mình chứ không phải vì mục đích kinh doanh hoặc hoạt động nghề nghiệp. Tuy nhiên cũng có quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới mà trong pháp luật bảo vệ người tiêu dùng có quy định người tiêu dùng bao gồm cả tổ chức. Theo pháp luật Đài Loan, khái niệm người tiêu dùng được quy định là những ai tham gia vào các giao dịch, sử dụng hàng hóa dịch vụ và mục đích là để tiêu dùng.
Như vậy chủ thể tham gia vào các giao dịch ở đây có thể được hiểu là bao hàm cả thể nhân và pháp nhân, miễn là mục đích của họ là để tiêu dùng. Theo pháp luật Hàn Quốc, người tiêu dùng được hiểu là những ai được cung cấp hàng hóa, dịch vụ bởi các doanh nghiệp mà mục đích sử dụng hàng hóa, dịch vụ bao gồm cả tiêu dùng và sản xuất. Như vậy, người tiêu dùng theo pháp luật Hàn Quốc bao gồm cả cá nhân, pháp nhân; không chỉ phát sinh trực tiếp từ hợp đồng mà còn bao gồm cả những người sử dụng, thụ hưởng dịch vụ hàng hóa đó không từ hợp đồng; không chỉ rõ có bao gồm mục đích thương mại hay không. 15 Qua nghiên cứu pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của một số quốc gia trên thế giới thì quan niệm về người tiêu dùng thường được tiếp cận theo nhiều hướng: • Nếu xét về chủ thể thì có 3 xu hướng Xu hướng thứ nhất chỉ quy định người tiêu dùng là thể nhân (hoặc cá nhân), đây là cách quy định của Châu Âu và Quebec.
Cách quy định này thể hiện rõ luật bảo vệ người tiêu dùng chỉ bảo vệ đối với cá nhân trong quan hệ với nhà cung cấp nên luật bảo vệ người tiêu dùng không cần thiết phải can thiệp vào quan hệ tiêu dùng của họ. Tuy nhiên cách tiếp cận này cũng có một số điểm hạn chế bởi lẽ theo quy định của pháp luật thì pháp nhân có nhiều loại bao gồm cả doanh nghiệp và các cơ quan tổ chức khác trong xã hội. Các đối tượng này cũng có hoạt động thông thường mà không nhất thiết các quan hệ mua bán của họ đều là các quan hệ thương mại. Do đó trong quan hệ tiêu dùng họ cũng không phải là những người chuyên nghiệp và cũng như người tiêu dùng, họ cũng không có sẵn nguồn lực để đối phó với những hành vi vi phạm từ phía nhà sản xuất và cũng rất cần tới sự bảo vệ của pháp luật bảo về quyền lợi người tiêu dùng.
Xu hướng thứ hai là quy định rõ người tiêu dùng bao gồm cả thể nhân và pháp nhân. Quy định này tuy có vẻ hơi rộng và có thể có quan điểm cho rằng nó sẽ làm loãng đi hiệu lực của Luật bảo vệ người tiêu dùng.