Chương 1 LÝ LUẬN CHUNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ TỘI PHẠM TRONG LĨNH VỰC NGÂN HÀNG 1. Khái niệm và dấu hiệu pháp lý của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng 1. Khái niệm Theo Đại từ điển tiếng Việt định nghĩa, thuật ngữ “lĩnh vực” là phạm vi hoạt động hay xem xét nào đó, phân biệt với các phạm vi hoạt động hoặc xem xét khác (Đại từ điển tiếng Việt, Nguyễn Như Ý (Chủ biên), NXb Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh, năm 2008, trang 933). Theo Điều 4, Luật các TCTD năm 2010 định nghĩa, “ngân hàng” là loại hình TCTD có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này.
Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã. Như vậy có thể hiểu “lĩnh vực ngân hàng” gồm sự tồn tại của chính hệ thống ngân hàng (Ngân hàng nhà nước, các ngân hàng thương mại và ngân hàng chính sách xã hội) và các hoạt động kinh doanh tiền tệ, dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, lĩnh vực ngân hàng là khái niệm tương đối có nội hàm chỉ sự tồn tại của các ngân hàng và hoạt động của các ngân hàng đó theo quy định của pháp luật [14]. Tội phạm là một hiện tượng tiêu cực trong xã hội, xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, pháp luật cũng như khi xã hội phân chia thành giai cấp đối kháng.
Để bảo vệ quyền lợi của giai cấp thống trị, nhà nước đã quy định hành vi nào là tội phạm và áp dụng TNHS hoặc hình phạt đối với người nào thực 10 luan an hiện hành vi đó. Do vậy, tội phạm không chỉ mang thuộc tính lịch sử - xã hội mà nó còn có bản chất là một hiện tượng pháp lý. Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa pháp lý của việc xác định rõ khái niệm tội phạm, pháp luật hình sự Việt Nam và các nước XHCN đều có định nghĩa thống nhất khái niệm tội phạm thể hiện bản chất xã hội của tội phạm, qua đó phản ánh quan điểm, đường lối, chính sách đúng đắn về hình sự của nhà nước trong từng giai đoạn lịch sử, cách mạng, bảo vệ các lợi ích của toàn thể nhân dân. Hơn nữa, khái niệm tội phạm trong luật hình sự còn là cơ sở để phân biệt tội phạm với các hành vi vi phạm pháp luật khác và với hành vi trái đạo đức, cũng như các trường hợp không phải là tội phạm, qua đó, bảo vệ, củng cố và duy trì trật tự pháp luật, góp phần phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, bảo vệ một cách hữu hiệu lợi ích của nhà nước, của xã hội, các quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 8, BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa mà theo quy định của Bộ luật này phải bị xử lý hình sự [8]. Căn cứ quy định trên, có thể khái quát: Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, được quy định trong luật hình sự, do người có TNHS hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ và phải chịu hình phạt. 11 luan an Trên cơ sở kế thừa những hạt nhân hợp lý, có thể hiểu: Tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng là những hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại những quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện các quy định của pháp luật ngân hàng, được quy định trong BLHS, gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại đến hoạt động đúng đắn của ngân hàng, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân và xã hội. Dấu hiệu pháp lý 1.
Khách thể của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng Khách thể của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng xâm phạm trật tự quản lý kinh tế của nhà nước, đang được thể hiện trên nhiều lĩnh vực khác nhau như sản xuất, kinh doanh, lưu thông, quản lý tài chính, tiền tệ, … gây ảnh hưởng đến sự ổn định và phát triển kinh tế đất nước. Đối tượng tác động chủ yếu của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng thường là tiền, vàng hoặc các loại giấy tờ có giá khác. Hành vi phạm tội có thể tác động vào các đối tượng cụ thể khác nhau của khách thể - các quan hệ xã hội mà luật hình sự bảo vệ. Các đối tượng này có thể là con người, đối tượng vật chất khác và hoạt động bình thường của chủ thể.
Như vậy, có thể thấy đối tượng tác động chủ yếu của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng thường là tiền, vàng hoặc các giấy tờ có giá trị khác. Mặt khách quan của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng Hầu hết các tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng có cấu thành vật chất, tức là các tội được coi là hoàn thành kể từ khi thực hiện một hành vi quy định trong điều luật với một số lượng, giá trị vật chất cụ thể. Tuy nhiên, cũng có những tội cấu thành hình thức, tức là tội này không cần có hậu quả xảy ra thì tội phạm đã được coi là hoàn thành. Một số tội có quy định là đã bị xử phạt hành chính, đã bị kết án về tội quy định trong nhóm các tội trong lĩnh vực ngân hàng chưa được xoá án tính mà còn vi phạm.
Một trong những dấu hiệu 12 luan an nêu trên là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Hầu hết các tội trong lĩnh vực ngân hàng được biểu hiện bằng những hành động cụ thể, thể hiện bằng các thủ đoạn khác nhau khi thực hiện tội phạm, công cụ, phương tiện, thời gian, địa điểm… thực hiện tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng, trừ trường hợp luật định. Các hành vi phạm tội thường gặp trong lĩnh vực ngân hàng: Lợi dụng chức vụ quyền hạn để thực hiện hành vi tham nhũng. Thủ đoạn phạm tội này tương đối phổ biến trong hầu hết các vụ án đã xảy ra trong thời gian qua, một số cán bộ ngân hàng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để thực hiện hành vi phạm tội vì động cơ vụ lợi và có sự tính toán, che giấu tinh vi khi thực hiện.
Lợi dụng vị trí công tác, uy tín của tổ chức ngân hàng để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tiền của các ngân hàng, tổ chức và cá nhân. Cán bộ ngân hàng lợi dụng vị trí công tác, uy tín của ngân hàng để thực hiện hành vi lừa đảo nhằm rút tiền của ngân hàng hoặc chiếm đoạt tiền của các tổ chức, cá nhân, thông qua các biện pháp nghiệp vụ như: huy động vốn cho ngân hàng (thỏa thuận trả lãi suất cao hơn quy định Nhà nước cho phép), sau đó không đưa vào ngân hàng mà chiếm đoạt luôn tiền, tài sản của các cá nhân, tổ chức; cán bộ ngân hàng sử dụng các biện pháp nghiệp vụ nhằm sửa chữa, tẩy xóa nâng giá trị tiền lên nhiều lần trong các chứng chỉ tiền gửi của các ngân hàng phát hành, rồi đem thế chấp tại chính ngân hàng mình đang công tác. Cán bộ ngân hàng bị lôi kéo, mua chuộc, tiếp tay cho tội phạm. Những người ngoài ngành ngân hàng chỉ thực hiện được tội phạm khi lôi kéo, mua chuộc được cán bộ ngân hàng, chủ yếu là cán bộ trực tiếp làm công tác tín dụng, cán bộ thẩm định hồ sơ, tài sản thế chấp, hoặc lãnh đạo của các chi nhánh ngân hàng, bằng cách cho hưởng phần trăm hoặc “hoa hồng” trên tổng số tiền vay, thực chất những hành vi đó là đưa, nhận hối lộ để có được sự thông đồng tiếp tay của cán bộ ngân hàng dưới nhiều hình thức.
13 luan an Cán bộ ngân hàng thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Loại hành vi này xảy ra do lãnh đạo đơn vị ngân hàng hoặc người có trách nhiệm trong các ngân hàng cả tin, quan liêu, năng lực yếu kém thiếu kiểm tra cấp dưới dẫn đến bị lợi dụng và để xảy ra vi phạm, tội phạm. Hành vi lừa đảo với các thủ đoạn như tạo dựng hồ sơ dự án để thế chấp vay vốn ngân hàng: các đối tượng phạm tội đăng ký thành lập doanh nghiệp để lấy tư cách pháp nhân, sau đó xây dựng các bộ hồ sơ dự án giả mạo để thế chấp vay ngân hàng; giả mạo hợp đồng đồng mua bán hàng hóa để thế chấp vay vốn ngân hàng: đối tượng phạm tội thường làm giả con dấu của doanh nghiệp khác, tạo ra các hợp đồng mua bán hàng hóa; hoặc lập ra nhiều doanh nghiệp để ký kết các hợp đồng kinh tế giả mạo dùng thế chấp vay vốn ngân hàng; giả mạo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhà ở; hoặc lừa đảo sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của tổ chức, cá nhân; hoặc cùng một tài sản (nhà, đất) lập ra nhiều giấy chứng nhận quyền sử dụng nhà ở, đất ở đem thế chấp tại nhiều ngân hàng để vay vốn. Mua chuộc cán bộ nhà nước, cán bộ ngân hàng tiếp tay cho hành vi lừa đảo.
Thông qua các vụ án đã khảo sát cho thấy, trong lĩnh vực ngân hàng đã có rất nhiều quy định chặt chẽ nhất là quy định về vay vốn, mặc dù hành vi và thủ đoạn của bọn tội phạm lừa đảo ngân hàng rất tinh vi, nhưng nếu không có sự tiếp tay của cán bộ Nhà nước, đặc biệt là cán bộ trong ngành ngân hàng, thì khó xảy ra các hành vi lừa đảo chiếm đoạt được tài sản của ngân hàng. Mặt chủ quan của tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng Tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng thường được thực hiện với lỗi cố ý, bao gồm cả lỗi cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp.