CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNGTHÔNG QUA PHÁP LUẬT KIỂM SOÁT CÁC HÀNH VI CẠNH TRANH KHÔNG LÀNH MẠNH BỊ CẤM 1. Khái quát về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1. Khái niệm người tiêu dùng Người tiêu dùng hay người tiêu thụ là một từ nghĩa rộng dùng để chỉ các cá nhân hoặc hộ gia đình dùng sản phẩm hoặc dịch vụ trong nền kinh tế. Khái niệm người tiêu dùng được dùng trong nhiều văn cảnh khác nhau vì thế cách dùng và tầm quan trọng của khái niệm này có thể rất đa dạng.
Người tiêu dùng là người có nhu cầu, có khả năng mua sắm các sản phẩm dịch vụ trên thị trường phục vụ cho cuộc sống, người tiêu dùng có thể là cá nhân hoặc hộ gia đình. Trong những năm trước "đổi mới", nhận thức của toàn xã hội về quyền lợi của người tiêu dùng nói chung và hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng nói riêng gần như không tồn tại. Cơ chế quản lý kinh tế bao cấp dựa trên kế hoạch hóa tập trung vào vấn đề sản xuất hàng hóa và cung cấp dịch vụ, nhu cầu của người tiêu dùng được nhà nước quản lý thông qua hệ thống tem phiếu. Kể từ thời kỳ đổi mới, khi Việt Nam chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường, đã xuất hiện quan hệ mua bán, giao dịch giữa một bên là nhà sản xuất, kinh doanh hàng hoá và dịch vụ với một bên là người bỏ tiền ra mua hàng hoá và dịch vụ để phục vụ cho sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân, gia đình và tổ chức (được gọi chung là người tiêu dùng) và vai trò của người tiêu dùng ngày càng được nâng cao.
Trong bối cảnh đó, việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng đã được đặt ra và quyền lợi người tiêu dùng được xác định bằng các văn bản pháp lý như Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng với sự tham gia của các tổ chức như Bộ Khoa học và Công nghệ- cơ quan chịu trách nhiệm trước Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong phạm vi cả nước, Tổng cục Tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng, Chi cục 12 tại các tỉnh, thành phố, Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng (VINASTAS) cùng mạng lưới các Sở Khoa học và Công nghệ, các Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở các địa phương. Ở Việt Nam, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 1999 là bước đi đầu tiên trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Tuy nhiên, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã bộc lộ những hạn chế và bất cập như tính khả thi của Pháp lệnh và Nghị định hướng dẫn chưa cao, nhiều quy định khá chung chung khó thực thi; Một số điểm chưa mang tính cập nhật hoặc chưa bao quát được những vấn đề liên quan đến tự do hoá thương mại và tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là sau khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của WTO và Việt Nam tham gia đầy đủ, có trách nhiệm vào các hiệp định thương mại thì các chế tài chưa đủ mạnh để cho cơ quan bảo vệ người tiêu dùng tổ chức thực thi có hiệu quả. Để đáp ứng yêu cầu của trong tình hình mới trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ngày 17 tháng 11 năm 2010 tại kỳ họp thứ 8 Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, thông qua Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và thay thế Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1999.
Theo đó người tiêu dùng được định nghĩa là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình, tổ chức. Dưới góc độ kinh tế, theo từ điển Kinh tế học hiện đại định nghĩa: “Người tiêu dùng là bất cứ đơn vị kinh tế nào có nhu cầu tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ cuối cùng…, thông thường, người tiêu dùng được coi là một cá nhân nhưng trên thực tế, người tiêu dùng có thể là cơ quan, các cá nhân và nhóm cá nhân. Trong trường hợp cuối cùng, điều đáng lưu ý là, để có quyết định, đơn vị tiêu dùng là hộ gia đình chứ không phải là cá nhân. Khi xem xét khái niệm này có thể thấy: (i) Chủ thể của giao dịch: cá nhân, gia đình hoặc tổ chức; (iii) Mục đích của giao dịch: Sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình, tổ chức; (iii) Căn cứ, cơ sở phát sinh quan hệ: xác lập thông qua hoạt động mua bán, cung 13 cấp hàng hóa, dịch vụ (mua) và/hoặc xác lập trên cơ sở có hoạt động sử dụng hàng hóa, dịch vụ (sử dụng) thậm chí không sử dụng hàng hóa, dịch vụ.
Về chủ thể Có thể thấy trên thế giới, số quốc gia coi “người tiêu dùng” cá nhân (thể nhân) nhiều hơn số quốc gia coi “người tiêu dùng” bao gồm cả tổ chức. Điều này xuất phát từ quan điểm cho rằng khi so sánh với “người tiêu dùng cá nhân” thì “người tiêu dùng tổ chức” hoàn toàn có vị thế cân bằng với bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ (tổ chức, cá nhân kinh doanh) và không có việc “yếu thế”, hạn chế hơn về địa vị pháp lý, kiền thức, tài chính, nhân sự,… Vì vậy, có ý kiến cho rằng, việc bảo vệ “người tiêu dùng tổ chức” đã “làm mất ý nghĩa cũng như lãnh phí nguồn lực cho chính sách bảo vệ người tiêu dùng, can thiệp quá sâu và không cần thiết vào các quan hệ dân sự”. Tuy nhiên, khi so sánh tương quan giữa “người tiêu dùng tổ chức” với “tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”, ta cần xét đến tính chất của hàng hóa, dịch vụ cũng như đặt trong điều kiện, hoàn cảnh, phương thức của việc giao dịch. Nếu hai thương nhân cùng đang kinh doanh ô tô giao dịch với nhau (kể cả trường hợp một doanh nghiệp mua ô tô về với mục đích tiêu dùng) thì có thể với những kinh nghiệm và lợi thế khi đang kinh doanh trong lĩnh vực tương đồng, hai bên sẽ có sự cân bằng tương đối.
Tuy nhiên, nếu một trường học mua sữa về cho các em học sinh sử dụng thì trong quan hệ với người bán sữa, trường học cũng không có nhiều lợi thế nếu so sánh với hoạt động mua sữa về sử dụng của một hộ gia đình hay thậm chí là một cá nhân. Mục đích của giao dịch Đối với các giao dịch tiêu dùng, hầu hết các quốc gia đều không chấp nhận các giao dịch vì mục đích thương mại hoặc nghề nghiệp. Điều này hết sức hợp lý vì đây là phạm điều chỉnh của pháp luật thương mại hoặc dân sự. 14 Vì vậy, cá nhân, tổ chức chỉ có thể trở thành người tiêu dùng khi mục đích mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ là “tiêu dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức”.
Ở đây, cần làm rõ thêm về mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của các chủ thể. Có những đặc điểm, tính chất riêng trong các hoạt động “tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân”, “tiêu dùng sinh hoạt của gia đình” và “tiêu dùng sinh hoạt của tổ chức”. Không có gì cần bàn nhiều với hoạt động “tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân” khi các hoạt động này rất rõ nét và được thừa nhận rộng rãi trong quy định pháp lý và thực tiễn cuộc sống ở tất cả các quốc gia. Các hoạt động nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản (ăn, ở, mặc, đi lại), những quyền tự nhiên của con người chính là những ví dụ điển hình nhất.
Cơ sở phát sinh quan hệ. Trên thực tế, quan hệ tiêu dùng xác lập thông qua hoạt động mua bán, cung cấp hàng hóa, dịch vụ (mua) và/hoặc xác lập trên cơ sở có hoạt động sử dụng hàng hóa, dịch vụ (sử dụng) thậm chí không mua và/hoặc không sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Ở đây, trong mối tương quan với “tổ chức cá nhân doanh” và “hàng hóa, dịch vụ”, có thể tồn tại 3 chủ thể, đó là “người mua”, “người sử dụng” và “người không mua và/hoặc không sử dụng”. (i) Đối tượng đầu tiên được pháp luật hầu hết các quốc gia thừa nhận là “Người tiêu dùng” chính là “Người sử dụng”, tức là người trực tiếp sử dụng (dùng) hàng hóa, dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh cung cấp.
(ii) Đối tượng tiếp theo có khả năng được pháp luật thừa nhận là “Người tiêu dùng” chính là “Người mua”, tức là bên có quan hệ hợp đồng (có thể bằng văn bản hoặc hình thức khác) hoặc giao dịch với tổ chức, cá nhân kinh doanh, nói đơn giản là người trả tiền (tiêu) để nhận hàng hóa, dịch vụ. Nói là “có khả năng” bởi trong nhiều trường hợp không dễ xác định tư cách “Người tiêu dùng” cho chủ thể này. Nhất là trong các trường hợp “người 15 mua” không đồng thời là “người sử dụng” hàng hóa, dịch vụ. Khi đó, ai sẽ là người tiêu dùng, “người mua” hay “người sử dụng” và mỗi bên sẽ được pháp luật bảo vệ người tiêu dùng thừa nhận và bảo vệ như thế nào? (iii) Đối tượng thứ ba có khả năng được coi là người tiêu dùng và chịu sự điều chỉnh, tác động của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng chính là những cá nhân, tổ chức, hộ gia đình không có giao dịch (“không mua”) và cũng “không sử dụng hàng hóa, dịch vụ” nhưng vẫn bị ảnh hưởng, tác động bởi hành vi của tổ chức, cá nhân kinh doanh.
Đó chính là những người bị các tổ chức, cá nhân kinh doanh “quấy rối”. Vấn đề này cũng được quy định trong pháp luật của một số quốc gia khác. Trong định nghĩa “người tiêu dùng” tại Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam cũng sử dụng dấu phẩy (,) giữa hai động từ “mua” và “sử dụng”. Điều này càng gây khó khăn hơn cho việc phân định chủ thể là “người tiêu dùng” giữa “người mua” và “người sử dụng”.
Câu hỏi đặt ra là dấu phẩy (,) ở đây mang nghĩa là “và” (đồng thời) hay “hoặc” (lựa chọn). Nghĩa là: muốn được coi là “người tiêu dùng” thì “người mua” đồng thời phải là “người sử dụng” (hai hành động liên tục do cùng một chủ thể thực hiện) hay pháp luật thừa nhận hai đều là người tiêu dùng (chỉ cần “mua” hoặc “sử dụng” đều được)?.