CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN CUA NGUYEN DON TRONG TO TUNG DAN SU 1. KHAI NIEM, DAC DIEM VA VAI TRO VE QUYEN CUA NGUYEN DON TRONG TO TUNG DAN SU 1. Khái niệm quyền của nguyên don trong tố tụng dân sự Để đưa ra được khái niệm “quyên của nguyên don trong TTDS” cần giải thích được các khái niệm: TTDS và nguyên đơn trong TTDS. Thứ nhất, về khái niệm TTDS.
Trong hoạt động xây dựng pháp luật, những nhóm quan hệ có cùng tính chất sẽ được điều chỉnh chung bởi một ngành luật. Danh từ “dân sự” thường được hiểu như một bộ phận của lĩnh vực luật tư, bản chất là sự bình đăng trong việc cam kết, rằng buộc, thay đổi, cham dứt, thỏa thuận về quyền và nghĩa vụ của các bên. Với tính chất của các quan hệ dân sự, nhà làm luật đã xây dựng các quy tắc xử sự chung cho các chủ thê khi tham gia vào quá trình cam kết, thỏa thuận dựa trên cơ sở tự nguyện, tự do và bình đăng về địa vị pháp lý. Theo nhà nghiên cứu Vũ Văn Mẫu: “Dân luật (luật dân sự) là những nguyên tắc cai quan sự giao thiệp giữa tr nhân” — ý chỉ các quy phạm pháp luật điều chỉnh quan hệ mang tính chất “riêng tư” của các chủ thê.
Bên cạnh đó, theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, khi xây dựng một hệ thống pháp luật, song song với việc ghi nhận quyền và nghĩa vu của các chủ thé, Nha nước cần phải xây dựng các cơ chế để đảm bảo thực hiện các quyên và nghĩa vụ đó. Nói như giáo sư Nguyễn Huy Đâu: “Một quyên lợi duoc luật pháp công nhận nhiều khi không du bảo dam cho người có chủ quyên hưởng dụng: quyên lợi có thé bị phủ nhận, bị xâm phạm”, vì vậy “chủ thể quyên lợi bị tốn thương có quyên buộc tha — nhân phải tôn trọng quyên lợi bị de doa bằng những phương tiện hợp pháp”, phương tiện này “danh xưng là Luật tổ tụng”. Với “xứ mệnh” bảo vệ các lợi ich dan sự hợp pháp trong pháp luật nội dung phải được hiện thực hóa — luật TTDS đã ra đời. Thuật ngữ “tố tụng” có nhiều cách hiểu khác nhau.
Theo Giáo sư Vũ Văn mẫu, “t6 tụng” tức là “thủ tục kiện cdo”. Hay theo phân tích của Giáo sư Nguyễn Huy Dau từ việc nghiên cứu luật của Nhật Ban va Pháp thi nói đến “to tung” là nói đến “môn luật liên quan đến Tòa án, đến quyên tư pháp” và theo đó, TTDS là “dinh lệ tổ chức việc chỉ phối là điều hành công lý, đặt ra dé đảm bảo cho tư nhân các chế tài và tôn trọng quyên lợi trong tư luật”. Trong khoa học pháp lý ngày nay, „4 ' Vũ Văn Mẫu (1961), Dân luật khái luận, Bộ Quốc gia giáo dục xuất ban năm, tr. * Nguyễn Huy Đâu (1962), Luật Dân sự - Tổ tụng Việt Nam, Xuất bản dưới sự bảo trợ của Bộ Tư pháp, Sài Gòn, tr.
3 Vũ Văn Mẫu, tldd chú thích 1, tr. * Nguyễn Huy Đâu, tlđd chú thích 2, tr. TTDS được lý giải là thủ tục giải quyết vụ việc dân sự tại Tòa án”. Từ những phân tích ở trên, có thé hiểu: T7DS là quy trình, thủ tục do pháp luật quy định để giải quyết các tranh chấp, yêu câu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự (theo nghĩa rộng) tại Toa an.
Thứ hai, về khái niệm nguyên đơn trong TTDS. Dé đáp ứng các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống, con người luôn luôn có nhu cầu giao kết và thiết lập các quan hệ dân sự. Trong quá trình con người trao đôi lợi ích với nhau, việc xảy ra tranh chấp, mâu thuẫn là một yếu tố khách quan mang tính quy luật. Bởi, bản thân con người vốn là thực thê không hoàn hảo nên khi đặt chung vào cùng một mối quan hệ thì van dé nảy sinh mâu thuẫn là lẽ thường tình (dưới quan điểm của Triết học và Phật giáo)”.
Nhận thức được van đề đó, pháp luật cần quy định các phương thức để giải quyết tranh chấp. Một trong những phương thức giải quyết tranh chấp đó là yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Dé làm cơ sở cho việc xác định quyền và nghĩa vụ của từng chủ thê khi giải quyết tranh chấp tại Tòa án, pháp luật TTDS cần trao cho họ các tư cách pháp lý. Bởi, chỉ khi chủ thé ở trong một tư cách nào đó mới có thé sử dụng những quyền năng nhất định”.
Với vai trò là chủ thé làm phát sinh quá trình tố tụng (thé hiện băng việc nộp đơn khởi kiện), pháp luật trao cho chủ thé này tư cách là “nguyên đơn” trong TTDS. Cần nói thêm, quan niệm về TTDS cũng có nhiều cách hiểu khác nhau tùy theo từng mô hình tố tụng và pháp luật của mỗi quốc giaŸ. Do Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi mô hình phân loại tố tụng của các nước theo hệ thống luật dân sự, nên thủ tục tố tụng được chia thành hai loại là thủ tục giải quyết VADS (bao gồm thủ tục thông thường và thủ tục rút gọn) và thủ tục giải quyết việc dân sự. Và trong hai thủ tục này, tư cách nguyên đơn chỉ xuất hiện trong VADS.
Theo Từ dién luật học: “nguyén đơn là người được giả thiết có quyên hoặc lợi ích hợp pháp bị vi phạm hay tranh chấp nên khởi kiện (hoặc được người khác khởi kiện, khởi tô) theo quy định của pháp luật nhằm bảo vệ những quyên lợi đó””. Tit khái niệm này, có thé xác định được điều kiện cần dé một chủ thể có thé trở thành nguyên đơn trong TTDS là họ phải được suy đoán có quyền và lợi ích hợp dân sự hợp pháp bị xâm phạm. Sự xâm phạm ở đây chỉ được “suy đoán hay giả thiết? vì khi chưa có phán quyết của Tòa án thì không thê khăng định chắc chắn quyền lợi của nguyên đơn là hợp pháp. Đồng thời, khái niệm trên cũng chỉ ra rang nguyên đơn trong TTDS rất đa dạng.
Nguyên đơn có thé là người khởi kiện VADS khi đáp ứng các điều kiện luật định. Nguyên đơn cũng có thể là ° Tống Công Cường (2007), Luật Té tung dân sự Việt Nam — Nghiên cứu so sánh, Nxb Dai học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, tr. ° Trần Anh Tuan, Pháp luật TTDS Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế, Trường Đại học kiêm sát Hà Nội, tại dia chỉ http://tks.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/8 1/414 ngày truy cập 25/06/2017. 7 Nguyễn Ngọc Bich (Master laws Harvard) (2015), Tu duy pháp lý của luật sư, Nhà xuất bản Trẻ, tr.
* Tống Công Cường (2007), tldd chú thích 5, tr. ? Từ điển Luật học (2006), Bộ Tư pháp Viện khoa học pháp lý, Nxb từ điển bách khoa — Nxb Tư pháp, tr. người được cá nhân, cơ quan, tô chức được pháp luật trao quyền dé khởi kiện thay. Tuy nhiên, xét về lý thuyết của TTDS, khái niệm trên vẫn chưa bao quát hết các chủ thê có thể trở thành nguyên đơn trong TTDS.
Dựa theo lý thuyết của pháp luật dân sự, Nhà nước cũng là một trong những chủ thé của quan hệ pháp luật dân sự °, do vậy, khi bị xâm phạm về các lợi ích din sự hợp pháp, Nhà nước cũng có quyền bảo vệ mình. Thông qua các cơ quan chuyên môn, Nhà nước trao quyền cho những cơ quan này có quyền khởi kiện dé bảo vệ lợi ích của Nhà nước. Hoặc trong trường hợp lợi ích chung của cộng đồng bị xâm phạm, Nhà nước cũng có thể trao quyền cho một số cơ quan dé khởi kiện nhằm bảo vệ lợi ích công cộng. Khi đó, các cơ quan được trao quyền sẽ trở thành nguyên đơn trong VADSÌ".
Như vậy, cần hiểu đầy đủ, nguyên đơn trong VADS là người tham gia TTDS được giả thiết (suy đoán) là có quyển và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, tranh chấp nên đã tự mình khởi kiện hoặc được các chủ thể khác theo quy định của pháp luật khởi kiện để yêu cau Tòa án bảo vệ quyên lợi hợp pháp của mình hoặc khởi kiện VADS để yêu câu Tòa án bao vệ lợi ích Nhà nước, lợi ích công cộng. Thứ ba, vê khái niệm quyền của nguyên don trong TTDS. Quyền luôn là một phạm trù trừu tượng và được tiếp cận dưới nhiều giác độ khác nhau. Học thuyết pháp luật tự nhiên cho rằng, khi con người sinh ra đã được hưởng thụ các quyền mà luật tự nhiên ban cho, các quyền này đã chi phối và hướng dẫn hành vi con người đi đến sự công bằng và đúng đắn.
Luật của tự nhiên đã có trước khi loài người xuất hiện, nó tồn tại vĩnh hằng, độc lập, bất biến và khách quan” (cả ở Phương Đông và Phương Tây đều cùng quan điểm này'”). Khi xã hội văn minh ra đời, dé bảo vệ được quyền tự nhiên đó, Nhà nước phải tìm tòi, khám phá luật của tự nhiên để xây dựng thành hệ thống pháp luật (luật của tự nhiên, chi phối luật của con người). Trái ngược với quan điểm trên, học thuyết pháp luật thực chứng cho rằng, quyền là khả năng nhà nước trao cho chủ thê thông qua pháp luật. Thực chứng có nghĩa rằng trước hết luật phải ton tại một cách rành rot, cụ thể, minh chứng được Ý.
Theo học thuyết pháp luật thực chứng, quyền không phải là những gì bâm sinh, vốn có một cách tự nhiên mà phải do các Nhà nước xác định, thừa nhận và pháp điển hóa thành các quy phạm pháp luật”. Và vì thé, học thuyết này cho rằng “không có một pháp luật lý tưởng nào duy ‘0 Trường Dai học Luật Ha Nội (2012), Gido trinh Luật dan sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, tr. '' Xem thêm khoản 2 Điều 68 BLTTDS năm 2015. Đỗ Minh Đức (2014),“Tim hiểu học thuyết pháp luật tự nhiên”, Nghiên cứu lập pháp, (06), tr.
'3 Nhà bác hoc Aristotle — cha đẻ của học tuyết pháp luật tự nhiên Phương Tây cho rằng: pháp luật phải là “sự suy diễn từ sự hài hòa của trật tự tự nhiên”. Ở Phương Đông, Lão Tử cho răng, luật là cái có sẵn trong tự nhiên, luân lý tự nhiên đó không gì phá hủy được, con người nêu soạn luật cần tuân thủ công lý đó. Hay trong triết lý của Đạo Phật thuyết về luân hồi, nhân quả đều được diễn giải như quy luật vĩnh hang tồn tại trong vũ trụ. (Xem: Nguyễn Dang Dung — Đặng Minh Tuấn (chủ biên) (2014), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.63 và Phạm Duy Nghĩa (2011), Giáo trình pháp luật đại cương, Nxb Công an Nhân dân, tr.
'* Phạm Duy Nghĩa (2014), Phương pháp nghiên cứu luật học, Nxb. Công an Nhân dân, tr.