Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Văn bản quy phạm pháp luật là hình thức văn bản chứa đựng các quy tắc xử sự chung mang tính bắt buộc, đóng vai trò công cụ cơ bản trong quản lý nhà nước và điều hành xã hội. Ở cấp địa phương, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện chức năng cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân cùng cấp và là cơ quan hành chính nhà nước tại địa phương, có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật dưới hình thức quyết định nhằm cụ thể hóa chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên và đáp ứng yêu cầu quản lý thực tiễn trên địa bàn.

Sau 20 năm thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004 và gần 9 năm thực hiện Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020), hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương cấp tỉnh đã đạt được nhiều chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, tại tỉnh Hà Giang – một tỉnh miền núi biên giới phía Bắc có điều kiện tự nhiên hiểm trở, kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn – hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh vẫn bộc lộ nhiều hạn chế, vướng mắc cả về thể chế pháp lý, quy trình xây dựng văn bản và các điều kiện bảo đảm nguồn lực. Những bất cập này trực tiếp ảnh hưởng đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước tại địa phương.

Từ đòi hỏi thực tiễn trên, tác giả Nguyễn Đức Tiến đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Xây dựng văn bản pháp luật tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài: "Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang".

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận, đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại tỉnh Hà Giang, chỉ ra các tồn tại, bất cập và nguyên nhân, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Để thực hiện mục tiêu trên, khóa luận xác định 3 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.
  2. Phân tích, đánh giá các quy định pháp luật liên quan, đánh giá thực trạng ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang giai đoạn 2018 – 2023, chỉ ra hạn chế, bất cập và nguyên nhân.
  3. Đề xuất hệ thống giải pháp bảo đảm thực hiện hiệu quả hoạt động ban hành văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang thống nhất, minh bạch, khả thi và hiệu quả.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trên phương diện lý luận, quy định pháp luật và thực tiễn thi hành.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Hà Giang.
  • Phạm vi thời gian: Khảo sát thực tiễn số liệu và văn bản trong giai đoạn 6 năm, từ năm 2018 đến hết năm 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên nền tảng phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu khoa học pháp lý chuyên ngành, bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để mổ xẻ các quy định pháp luật hiện hành và khái quát hóa thực trạng ban hành văn bản.
  • Phương pháp phân loại và hệ thống hóa lý thuyết: Dùng để phân chia các giai đoạn trong quy trình ban hành và các nhóm yếu tố tác động.
  • Phương pháp lịch sử: Theo dõi sự chuyển biến của hệ thống pháp luật từ Luật năm 2004 đến Luật năm 2015 (sửa đổi năm 2020).
  • Phương pháp quan sát học và điều tra xã hội học: Thu thập dữ liệu thực tế từ hoạt động soạn thảo, lấy ý kiến, thẩm định tại các cơ quan chuyên môn thuộc tỉnh.

Khung pháp lý và cơ sở lý luận được tác giả viện dẫn gồm:

  • Hiến pháp năm 2013 (Điều 114 về vị trí, tính chất của Ủy ban nhân dân).
  • Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2020.
  • Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019 (kết hợp Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Chính phủ và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2019).
  • Nghị định số 34/2016/NĐ-CP và Nghị định số 154/2020/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
  • Các văn bản chuyên ngành liên quan: Nghị định số 68/2017/NĐ-CP về quản lý cụm công nghiệp, Nghị định số 114/2018/NĐ-CP về an toàn đập, hồ chứa nước, Nghị quyết số 37/2020/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang; Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Hà Giang lần thứ XVII (nhiệm kỳ 2020 - 2025).

Nguồn dữ liệu thực nghiệm phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ các báo cáo định kỳ về công tác kiểm tra, xử lý, rà soát và hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật qua các năm 2018, 2019, 2020, 2021, 2022, 2023 của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang và Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang; kết quả kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Bộ Tư pháp tiến hành; cùng các quyết định quy phạm pháp luật cụ thể do Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang ban hành.

Nội dung chính theo từng chương

CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

Chương 1 xây dựng khung lý luận chung về hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông qua ba nội dung chính:

Thứ nhất, về khái niệm và đặc điểm: Tác giả tổng hợp định nghĩa từ giáo trình của Trường Đại học Luật Hà Nội, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội và quy định tại khoản 1 Điều 8 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2020). Theo đó, văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh có 6 đặc điểm cơ bản:

  1. Là văn bản cụ thể hóa các quy định của pháp luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên.
  2. Không áp dụng điều chỉnh ngoài phạm vi địa phương đó.
  3. Được ban hành bởi chủ thể có thẩm quyền do pháp luật quy định (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành hình thức Quyết định theo quy định tại khoản 10 Điều 4 Luật năm 2015).
  4. Có nội dung là các quy phạm pháp luật mang tính bắt buộc chung, áp dụng nhiều lần cho các chủ thể cư trú hoặc hoạt động trên địa bàn.
  5. Ban hành theo đúng hình thức tên loại và thể thức kỹ thuật do pháp luật quy định (theo Nghị định 34/2016/NĐ-CP và Nghị định 154/2020/NĐ-CP).
  6. Ban hành theo trình tự, thủ tục luật định chặt chẽ.

Thứ hai, về quy trình ban hành: Căn cứ quy định từ Điều 127 đến Điều 132 Chương IX Luật năm 2015, tác giả phân tích chi tiết 5 giai đoạn:

  1. Lập đề nghị xây dựng quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (do cơ quan chuyên môn đề xuất, Văn phòng Ủy ban nhân dân phối hợp Sở Tư pháp kiểm tra).
  2. Soạn thảo văn bản (khảo sát thực tế, soạn thảo dự thảo và tờ trình, đánh giá tác động thủ tục hành chính, tác động giới).
  3. Lấy ý kiến về dự thảo (đăng tải công khai tối thiểu 30 ngày trên cổng thông tin điện tử, lấy ý kiến đối tượng chịu sự tác động trong tối thiểu 30 ngày; các cơ quan liên quan trả lời bằng văn bản trong vòng 10 ngày).
  4. Thẩm định dự thảo văn bản (do Sở Tư pháp thực hiện, gửi hồ sơ chậm nhất 20 ngày trước phiên họp Ủy ban nhân dân, thời gian ra báo cáo thẩm định là 10 ngày làm việc).
  5. Xem xét, thông qua và ký ban hành quyết định (thông qua khi có quá nửa tổng số thành viên Ủy ban nhân dân tỉnh tán thành, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh ký ban hành).

Thứ ba, về các yếu tố tác động: Khóa luận phân tích 3 nhóm yếu tố chi phối trực tiếp đến chất lượng hoạt động ban hành văn bản gồm: yếu tố chính trị (đường lối, chủ trương thể chế hóa của Đảng và chính sách phân cấp, phân quyền); yếu tố hệ thống pháp luật (tính đồng bộ, chặt chẽ của các đạo luật khung); yếu tố kinh tế - xã hội (tiềm lực kinh phí ngân sách địa phương, trình độ dân trí và áp lực từ dư luận xã hội).

CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA UBND TỈNH HÀ GIANG

Chương 2 phản ánh toàn diện thực trạng tại tỉnh Hà Giang qua số liệu và vụ việc cụ thể:

  1. Bối cảnh đặc thù địa phương: Hà Giang có diện tích tự nhiên 7.929,5 km², đường biên giới dài 274 km giáp Trung Quốc, địa hình đồi núi hiểm trở với độ cao trung bình từ 800m đến 1.200m. Đơn vị hành chính gồm 1 thành phố và 10 huyện (177 xã, 13 thị trấn, 5 phường). Toàn tỉnh có 6/11 huyện nghèo diện 30a (gồm 4 huyện cao nguyên đá: Mèo Vạc, Đồng Văn, Yên Minh, Quản Bạ; 2 huyện vùng cao phía Tây: Hoàng Su Phì, Xín Mần). Dân số gồm 19 dân tộc với hơn 87% là đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ nghèo năm 2023 còn ở mức cao (42,08%). Do đó, yêu cầu ban hành văn bản quy phạm pháp luật phải gắn chặt với việc thực hiện 5 chương trình trọng tâm và 3 khâu đột phá theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII.

  2. Kết quả đạt được (2018 - 2023):

  • Về số lượng: Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành tổng cộng 229 văn bản quy phạm pháp luật (trung bình 38,1 văn bản/năm). Năm 2021 ban hành nhiều nhất (57 văn bản), năm 2023 ban hành ít nhất (30 văn bản).
  • Cơ cấu ngành: Lĩnh vực Tài chính - Kế hoạch chiếm tỷ trọng lớn nhất với 64 văn bản (27,94%); tiếp đến là Xây dựng và Giao thông vận tải (32 văn bản - 13,97%); Tài nguyên và Môi trường (29 văn bản - 12,66%); Nông, Lâm nghiệp và Thủy lợi (27 văn bản - 11,79%); Văn hóa, Thể thao và Du lịch (26 văn bản - 11,35%); Y tế và Giáo dục (18 văn bản - 7,86%); Lao động, Thương binh và Xã hội chiếm thấp nhất (11 văn bản - 4,8%); các lĩnh vực khác chiếm 22 văn bản (9,6%).
  • Tình trạng hiệu lực (tính đến tháng 1/2024): 193 văn bản còn hiệu lực toàn bộ; 31 văn bản hết hiệu lực; 04 văn bản hết hiệu lực một phần; 01 văn bản chưa có hiệu lực.
  • Về quy trình: 100% văn bản ban hành từ 01/01/2018 tuân thủ lập đề nghị xây dựng; 100% dự thảo qua khâu thẩm định của Sở Tư pháp; việc lấy ý kiến nhân dân được triển khai đa dạng, trong đó có đăng tải trực tuyến tại địa chỉ hagiang.gov.vn/lien-he-gop-y.
  1. Hạn chế và sai sót thực tế:
  • Về chất lượng văn bản: Có tới 59% văn bản được kiểm tra mắc lỗi về thể thức và kỹ thuật trình bày (sai số hiệu, sai chính tả, cách chia bố cục, thiếu nơi nhận). Cá biệt xảy ra tình trạng trùng ký hiệu văn bản trong cùng một năm: Quyết định số 32/2020/QĐ-UBND ngày 25/11/2020 (quy định số lượng cán bộ, công chức cấp xã) và Quyết định số 32/2020/QĐ-UBND ngày 19/12/2020 (quy định chức năng của Thanh tra tỉnh), vi phạm khoản 2 Điều 58 Nghị định 34/2016/NĐ-CP.
  • Sai sót về căn cứ pháp lý: Thiếu căn cứ văn bản cấp trên (như Quyết định 03/2019/QĐ-UBND về phạm vi phụ cận công trình thủy lợi không dẫn Nghị định số 114/2018/NĐ-CP); hoặc căn cứ vào văn bản hành chính cá biệt (như Quyết định 18/2018/QĐ-UBND căn cứ Thông báo số 143/TB-UBND để bãi bỏ chính sách hỗ trợ theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, vi phạm khoản 1 Điều 61 Nghị định 34/2016/NĐ-CP).
  • Sai sót về nội dung: Quyết định số 14/2018/QĐ-UBND bãi bỏ Quyết định số 568/2011/QĐ-UBND về cụm công nghiệp có Điều 2 quy định trái khoản 1 Điều 78 Nghị định 34/2016/NĐ-CP và Điều 1 không nêu rõ lý do bãi bỏ.
  • Hạn chế trong quy trình: Cơ quan soạn thảo bỏ qua bước lập đề nghị xây dựng (như Sở Nội vụ gửi văn bản 576/SNV-CCVC ngày 12/08/2023 đề nghị thẩm định khi chưa lập đề nghị xây dựng); khâu khảo sát thực tế còn mang tính hình thức; tình trạng chậm ban hành văn bản chi tiết (như Quyết định số 282/QĐ-UBND ban hành ngày 27/02/2019 để hướng dẫn Nghị định số 138/2016/NĐ-CP đã có hiệu lực từ 01/10/2016); thời gian thẩm định thực tế bị rút ngắn (chỉ còn 3 đến 7 ngày), việc thẩm định chủ yếu phụ thuộc vào 1 chuyên viên phụ trách lĩnh vực của Phòng Xây dựng và kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật nên chưa huy động được trí tuệ tập thể.
  1. Nguyên nhân của hạn chế:
  • Nguyên nhân khách quan: Nền kinh tế tỉnh quy mô nhỏ, nguồn thu hạn hẹp; địa bàn rộng, giao thông chia cắt; trình độ dân trí không đồng đều; an ninh trật tự tiềm ẩn phức tạp (di cư tự do, tái trồng cây thuốc phiện, vượt biên trái phép); hệ thống chức danh tư pháp chưa có chức danh chuyên trách có phụ cấp tương xứng (như thẩm định viên, kiểm tra viên).
  • Nguyên nhân chủ quan: Vướng mắc thể chế khi khoản 4 Điều 14 Luật năm 2015 nghiêm cấm địa phương quy định thủ tục hành chính trong quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh, dẫn đến khó khăn khi ban hành các chính sách đặc thù phát triển kinh tế - xã hội; thiếu quy định rõ ràng về hình thức văn bản bãi bỏ văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không được ban hành dưới hình thức văn bản quy phạm pháp luật (theo khoản 1 Điều 12 Luật 2015 và điểm d khoản 1 Điều 103 Nghị định 34/2016/NĐ-CP); văn bản trung ương biến động nhanh và chưa đồng bộ; chế tài xử lý trách nhiệm cán bộ làm văn bản sai chủ yếu dừng ở mức "kiểm điểm, rút kinh nghiệm"; đội ngũ cán bộ pháp chế mỏng, trẻ, thiếu kinh nghiệm thực tế; kinh phí đầu tư cho công tác văn bản còn eo hẹp.

CHƯƠNG 3. GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG BAN HÀNH VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH HÀ GIANG

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ chính các vướng mắc tại địa phương:

Thứ nhất, hoàn thiện quy định pháp luật:

  • Đề nghị sửa đổi, bổ sung khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 (sửa đổi năm 2020), bổ sung trường hợp ngoại lệ cho phép địa phương quy định thủ tục hành chính khi Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành quyết định quy định biện pháp có tính chất đặc thù theo khoản 3 Điều 28 của Luật nhằm triển khai các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội.
  • Bổ sung quy định tại khoản 2 Điều 121 Luật năm 2015 về thành phần hồ sơ thẩm định bắt buộc phải có "Công văn của cơ quan chủ trì soạn thảo đề nghị Sở Tư pháp thẩm định".
  • Sửa đổi Điều 121 và Điều 130 Luật năm 2015 nhằm xác lập nội dung đánh giá bắt buộc trong Báo cáo thẩm định của Sở Tư pháp đối với việc đánh giá tác động thủ tục hành chính và đánh giá tác động giới (phù hợp với Luật Bình đẳng giới, Nghị định số 63/2010/NĐ-CP và Nghị định số 92/2017/NĐ-CP).

Thứ hai, thực hiện nghiêm túc quy trình xây dựng văn bản: Nâng cao chất lượng lập đề nghị; bắt buộc tiến hành khảo sát thực tiễn xã hội một cách thực chất; bố trí đủ thời gian thẩm định theo quy định (10 ngày làm việc); khắc phục tình trạng sao chép văn bản cấp trên.

Thứ ba, tăng cường phối hợp giữa các cơ quan: Mở rộng cơ chế phối hợp giữa cơ quan chủ trì soạn thảo và Sở Tư pháp ngay từ giai đoạn ban đầu; thành lập hội đồng tư vấn thẩm định đối với các dự thảo văn bản phức tạp, liên quan đến nhiều ngành; công khai, minh bạch quá trình tiếp thu, giải trình ý kiến đóng góp.

Thứ tư, bảo đảm các nguồn lực thực hiện:

  • Nâng cao chất lượng đội ngũ: Bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn, kỹ năng lập pháp cho đội ngũ công chức pháp chế; nghiên cứu thiết lập chế độ đãi ngộ và phụ cấp ngành đặc thù nhằm thu hút cán bộ pháp luật có năng lực.
  • Bảo đảm kinh phí và cơ sở vật chất: Thực hiện nghiêm việc lập dự toán ngân sách hàng năm dành riêng cho công tác soạn thảo, thẩm định, rà soát văn bản; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và lấy ý kiến dự thảo.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và phản ánh cụ thể số liệu ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang qua các bảng thống kê thực tế:

Năm Số lượng Quyết định ban hành (văn bản)
2018 40
2019 32
2020 38
2021 57
2022 32
2023 30
Tổng cộng 229

Nguồn: Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang, Báo cáo rà soát văn bản quy phạm pháp luật 2018 - 2023.

Cơ cấu lĩnh vực điều chỉnh của 229 văn bản quy phạm pháp luật được tổng hợp như sau:

Lĩnh vực điều chỉnh Số lượng văn bản Tỷ lệ (%)
Tài chính - Kế hoạch 64 27,94%
Xây dựng và Giao thông vận tải 32 13,97%
Tài nguyên và Môi trường 29 12,66%
Nông, Lâm nghiệp, Thủy lợi 27 11,79%
Văn hóa, Thể thao và Du lịch 26 11,35%
Lĩnh vực khác 22 9,60%
Y tế và Giáo dục 18 7,86%
Lao động, Thương binh và Xã hội 11 4,80%

Về mặt đóng góp học thuật và thực tiễn, công trình mang lại các giá trị cụ thể:

  • Làm sáng tỏ bức tranh thực tiễn lập quy tại một địa bàn miền núi đặc thù, cung cấp dữ liệu kiểm tra văn bản thực tế mà các nghiên cứu tổng quát trước đây (chỉ nghiên cứu chung cấp tỉnh hoặc tại các địa phương khác như Sơn La) chưa phản ánh sâu.
  • Định lượng rõ ràng tỷ lệ sai sót về thể thức, kỹ thuật soạn thảo (59%) và chỉ rõ các dạng sai sót điển hình về căn cứ ban hành, thẩm quyền nội dung và vi phạm quy tắc đánh số hiệu văn bản theo Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.
  • Đóng góp kiến nghị hoàn thiện thể chế cụ thể, đặc biệt là kiến nghị tháo gỡ điểm nghẽn về việc cấm quy định thủ tục hành chính tại khoản 4 Điều 14 Luật năm 2015 nhằm phục vụ ban hành chính sách đặc thù cho các tỉnh miền núi khó khăn.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được tác giả xác định trong văn bản:

  • Đề tài chỉ tập trung khảo sát hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan hành chính nhà nước cấp tỉnh (Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang), chưa mở rộng phân tích hoạt động ban hành nghị quyết của cơ quan quyền lực nhà nước cùng cấp (Hội đồng nhân dân tỉnh Hà Giang) cũng như chưa khảo sát hoạt động ban hành văn bản ở cấp huyện, cấp xã trên địa bàn.
  • Dữ liệu khảo sát giới hạn trong mốc thời gian từ năm 2018 đến hết năm 2023.

Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ đề tài là mở rộng phạm vi đánh giá toàn diện hoạt động lập quy của cả Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân trên địa bàn các tỉnh miền núi biên giới, cũng như khảo sát sâu tác động xã hội thực tế của các quyết định hành chính quy phạm sau khi được ban hành đối với đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật Hành chính, Luật Nhà nước và Xây dựng văn bản pháp luật: Tham khảo cấu trúc nghiên cứu thực chứng một đề tài lập pháp địa phương; tiếp cận các dẫn chứng sai sót kỹ thuật lập quy thực tế phục vụ học phần Kỹ thuật soạn thảo văn bản.
  • Cán bộ, công chức làm công tác tư pháp, pháp chế tại Ủy ban nhân dân và các sở, ban, ngành cấp tỉnh: Tham khảo tài liệu để nhận diện các lỗi vi phạm phổ biến về thể thức, thẩm quyền, căn cứ pháp lý và quy trình lấy ý kiến, thẩm định nhằm hạn chế sai sót trong thực thi công vụ.

Câu hỏi thường gặp

1. Trong giai đoạn 2018 – 2023, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang ban hành bao nhiêu văn bản quy phạm pháp luật và năm nào ban hành nhiều nhất?
Trong giai đoạn 2018 – 2023, Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang ban hành tổng cộng 229 văn bản quy phạm pháp luật (toàn bộ là Quyết định). Năm 2021 là năm có số lượng văn bản ban hành nhiều nhất với 57 văn bản; năm 2023 có số lượng ban hành ít nhất với 30 văn bản.

2. Lĩnh vực nào chiếm tỷ trọng lớn nhất và thấp nhất trong các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành?
Lĩnh vực Tài chính - Kế hoạch chiếm tỷ trọng cao nhất với 64 văn bản (chiếm 27,94%), do đây là lĩnh vực có nhiều biến động và pháp luật giao thẩm quyền lớn cho cấp tỉnh quy định về chế độ chi tiêu, định mức đầu tư, phí và lệ phí. Lĩnh vực Lao động, Thương binh và Xã hội chiếm tỷ lệ thấp nhất với 11 văn bản (chiếm 4,8%).

3. Khóa luận nêu ví dụ cụ thể nào về lỗi trùng số hiệu văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang ban hành?
Văn bản nêu trường hợp trùng ký hiệu văn bản trong năm 2020: Quyết định số 32/2020/QĐ-UBND ban hành ngày 25/11/2020 quy định về số lượng cán bộ, công chức cấp xã; nhưng sau đó ngày 19/12/2020, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục ban hành một Quyết định khác cũng mang ký hiệu số 32/2020/QĐ-UBND quy định chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của Thanh tra tỉnh Hà Giang. Việc này vi phạm khoản 2 Điều 58 Nghị định số 34/2016/NĐ-CP.

4. Vì sao quy định tại khoản 4 Điều 14 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 gây vướng mắc cho Hà Giang?
Khoản 4 Điều 14 nghiêm cấm địa phương quy định thủ tục hành chính trong quyết định của Ủy ban nhân dân tỉnh. Quy định này dẫn đến việc khi tỉnh muốn ban hành các chủ trương, chính sách mang tính đặc thù phục vụ giảm nghèo và phát triển kinh tế - xã hội miền núi theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh, tỉnh lại không thể quy định cụ thể trình tự, hồ sơ, thời hạn và thẩm quyền giải quyết hỗ trợ, làm cho chính sách ban hành thiếu tính khả thi và không thể triển khai trên thực tế.

5. Tỷ lệ văn bản của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày theo báo cáo của Sở Tư pháp năm 2023 là bao nhiêu?
Theo Báo cáo công tác kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật năm 2023 của Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang được trích dẫn trong khóa luận, tỷ lệ văn bản do Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành có sai sót về thể thức, kỹ thuật trình bày chiếm 59%.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Đức Tiến đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và đánh giá thực chất hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Ủy ban nhân dân tỉnh Hà Giang trong giai đoạn 2018 - 2023. Công trình chỉ rõ kết quả đạt được với 229 quyết định quy phạm pháp luật được ban hành, đồng thời phân tích cụ thể các sai sót về căn cứ pháp lý, nội dung và kỹ thuật trình bày chiếm tỷ lệ cao trong thực tế. Các giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện thẩm quyền quy định thủ tục hành chính đặc thù, siết chặt quy trình thẩm định và bảo đảm nguồn lực chuyên môn, cung cấp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn hữu ích cho công tác xây dựng pháp luật tại địa phương.