phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chƣơng. 10 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN 1. Khái quát về Quỹ tín dụng nhân dân 1. Khái niệm Quỹ tín dụng nhân dân Hệ thống QTDND ở Việt Nam đƣợc thành lập từ năm 1993 theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/07/1993 của Thủ tƣớng Chính phủ về việc triển khai đề án thí điểm thành lập QTDND thay thế cho hệ thống hợp tác xã tín dụng đã bị suy yếu và sụp đổ.
Tính đến thời điểm hiện tại hệ thống QTDND với tổ chức đầu mối là QTDNDTW (nay là Ngân hàng hợp tác xã Việt Nam) đã ra đời và tồn tại trong khoảng thời gian hai thập kỷ, mặc dù tồn tại với quy mô nhỏ về vốn, phạm vi hoạt động hạn chế nhƣng hệ thống QTDND chiếm một vị trí, vai trò quan trọng trong nền kinh tế, tạo thành một hệ thống với tính độc lập nhất định về tổ chức cũng nhƣ hoạt động so với các loại hình TCTD khác. Quy định về tổ chức và hoạt động của QTDND đƣợc quy định cụ thể trong Nghị định số 48/2001 ngày 13/08/2001 và Nghị định số 69/2005/NĐ-CP ngày 26/05/2005 (sửa đổi Nghị định số 48/2001). Trong các nghị định này thì QTDND đƣợc chia thành hai loại là QTDND cơ sở và QTDND trung ƣơng. Tại Điều 3 nghị định 48/2001/NĐ-CP quy định “Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở là tổ chức tín dụng hợp tác do các thành viên trong địa bàn tự nguyện thành lập và hoạt động theo quy định của nghị định này nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên” [3] Tại Điều 4 nghị định 48/2001/NĐ-CP quy định “Quỹ tín dụng nhân dân trung ương là tổ chức tín dụng hợp tác do các quỹ tín dụng nhân dân cơ sở cùng nhau thành lập nhằm mục đích hỗ trợ và nâng cao hiệu quả hoạt động của cả hệ thống quỹ tín dụng”.
[3] Với chủ trƣơng chuyển đổi QTDNDTW thành NHHTX Việt Nam, việc 11 phân biệt giữa QTDNDTW và QTDND cơ sở là không cần thiết. Chính vì thế, Luật các TCTD năm 2010 đã nêu cách hiểu về QTDND một cách thống nhất, theo đó tại Điều 4 Luật các TCTD năm 2010 quy định “Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống”. Mô hình tổ chức của Quỹ tín dụng nhân dân Từ khi thành lập, tổ chức QTDND thƣờng có hai mô hình, ban chỉ đạo thí điểm thành lập QTDND cũng đã trình chính phủ theo hai phƣơng án: - Phương án 1: Từ năm 1993 đến năm 2000 (giai đoạn thí điểm thành lập hệ thống QTDND) hệ thống QTDND đƣợc tổ chức theo mô hình 3 cấp: Cấp 1: Các QTDND cơ sở (Xã, phƣờng, thị trấn) Cấp 2: Các QTDND ở cấp khu vực (Tỉnh, thành phố) Cấp 3: QTDNDTW ở cấp quốc gia QTDND Trung Ƣơng (QTDND TW) QTDND khu vực QTDND khu vực QTDND cơ sở QTDND cơ sở QTDND cơ sở QTDND cơ sở Hình 1. Sơ đồ hệ thống QTDND 3 cấp (Nguồn: Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương) Ghi chú: Quan hệ hỗ trợ - Phương án 2: Từ năm 2000 - 2013, thực hiện chỉ thị số 57/CT-TW của 12 Bộ chính trị , hệ thống QTDND đƣợc chuyển đổi từ mô hình 3 cấp sang mô hình 2 cấp.
Mô hình hệ thống QTDND hai cấp gồm có: Cấp 1: Các QTDND cơ sở (Xã, phƣờng, thị trấn) Cấp 2: QTDTW ở cấp Trung Ƣơng. Gồm QTDTW và QTDTW chi nhánh các tỉnh – thành phố. QTDND Trung Ƣơng (QTDND TW) QTDND khu vực QTDND khu vực QTDND cơ sở QTDND cơ sở QTDND cơ sở QTDND cơ sở Hình 1.2: Sơ đồ hệ thống QTDND 2 cấp (Nguồn: Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương) Ghi chú: Quan hệ hỗ trợ Quan hệ trực thuộc * Ưu nhược điểm của mô hình QTDND hai cấp: - Ƣu điểm: Mô hình hệ thống QTDND 2 cấp phù hợp với điều kiện nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, gắn liền mối quan hệ trực tiếp giữa trung ƣơng với cơ sở nên bộ máy quản lý gọn nhẹ, giảm đƣợc chi phí, liên kết trong hệ thống đƣợc chặt chẽ hơn. - Nhƣợc điểm: Mô hình QTDND 2 cấp không còn khâu trung gian là QTDND khu vực nên bộ máy mạng lƣới hoạt động của QTDTW rất lớn nên khó quản lý hơn, việc kiểm tra, kiểm soát gặp khó khăn hơn.
Hoạt động chủ yếu của Quỹ tín dụng nhân dân Hoạt động huy động vốn Theo quy định tại Thông tƣ 04/2015/TT-NHNN QTDND đƣợc huy động 13 vốn dƣới các hình thức: - Nhận tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm của thành viên, tổ chức, cá nhân khác bằng đồng Việt Nam. - Tổng mức nhận tiền gửi từ thành viên của QTDND tối thiểu bằng 50% tổng mức nhận tiền gửi của QTDND. - Vay vốn điều hòa theo quy chế do Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam ban hành theo quy định của pháp luật. - Vốn góp của các thành viên.
Hoạt động tín dụng - Theo khoản 2, điều 38, mục 1, chƣơng V của nghị định số 48- 2001/NĐ-CP quy định: “Việc lập hồ sơ và thủ tục cho vay, xét duyệt cho vay, kiểm tra việc sử dụng tiền vay, chấm dứt cho vay, xử lý nợ, điều chỉnh lãi suất và lưu giữ hồ sơ Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở phải thực hiện theo quy định của Ngân hàng Nhà nước”. Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở được thực hiện các dịch vụ thanh toán và ngân quỹ, chủ yếu phục vụ các thành viên.” [3] Các hoạt động khác - Tiếp nhận vốn ủy thác cho vay của Chính phủ, tổ chức, cá nhân vay vốn của các TCTD, tổ chức tài chính khác - Tham gia góp vốn thành lập NH HTX 14 - Mở tài khoản thanh toán tại NHTM, chi nhánh NH nƣớc ngoài - Nhận ủy thác và làm đại lý một số lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, quản lý tài sản theo quy định của NHNN 1. Đặc trưng cơ bản của Quỹ tín dụng nhân dân 1. Những đặc trưng cơ bản của TCTD là Hợp tác xã TCTD có thể đƣợc thành lập và hoạt động dƣới hình thức hợp tác xã.
Theo đó, tính chất và mục tiêu hoạt động của tổ chức tín dụng là hợp tác xã đƣợc quy định tại Điều 73 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, cụ thể nhƣ sau: “Tổ chức tín dụng là hợp tác xã là loại hình tổ chức tín dụng được tổ chức theo mô hình hợp tác xã hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng nhằm mục đích chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên thực hiện có hiệu quả các hoạt động sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cải thiện đời sống. Tổ chức tín dụng là hợp tác xã gồm ngân hàng hợp tác xã, quỹ tín dụng nhân dân”. Mục tiêu hoạt động chủ yếu là tương trợ giữa các thành viên QTDND do các thành viên cùng nhau góp vốn thành lập với mục tiêu là đƣợc cung cấp và sử dụng các dịch vụ một cách thuận tiện và ổn định với giá cả hợp lý. Tuy nhiên, trong điều kiện kinh tế thị trƣờng ngày càng cạnh tranh gay gắt, để duy trì khả năng phát triển của mình, các QTDND vừa phải đảm bảo trang trải các chi phí đã bỏ ra, vừa phải đảm bảo có tích lũy vốn với quy mô ngày càng lớn phát triển, vừa phải thực hiện tốt mục tiêu hỗ trợ thành viên một cách lâu dài.
Thành viên vừa là chủ sở hữu, vừa là khách hàng Đây là điểm khác biệt của QTDND so với các loại hình doanh nghiệp khác. Đối với QTDND, thành viên là chủ sở hữu của Quỹ nên họ coi đây nhƣ là tổ chức của bản thân họ, thành viên tự giác tham gia gánh vác công việc và quản lý, giám sát tổ chức đồng thời họ cũng sử dụng nhiều hơn các dịch vụ 15 của tổ chức và nhƣ thế bản thân họ và QTDND có điều kiện để cùng nhau phát triển tốt hơn. Quỹ tín dụng nhân dân hoạt động gắng với địa bàn xã, thị trấn Phạm vi hoạt động của QTDND chủ yếu ở các địa bàn nông nghiệp nông thôn, các tụ điểm dân cƣ gắn với địa bàn hành chính cấp xã phƣờng hoặc liên xã, liên phƣờng, có thể trong phạm vi ngành nghề. Tính khu vực này một mặt giúp các QTDND trên một địa bàn huyện, tỉnh phân chia rõ ràng địa bàn hoạt động tránh đƣợc sự cạnh tranh nội bộ giữa các QTDND, mặt khác giúp các QTDND đảm bảo kiểm soát đƣợc các hoạt động trong khu vực hoạt động của mình, đồng thời, giúp các QTDND gần gũi, thông hiểu thành viên.
Các Quỹ tín dụng nhân dân có tính hệ thống cao Do đều có cùng một tên gọi là QTDND, cùng một biểu tƣợng, cùng một mục tiêu khẩu hiệu là tƣơng trợ thành viên, chính điều này tạo ra tính ảnh hƣởng dây chuyền cho các QTDND. Đặc điểm này sẽ không những làm cho một số QTDND mặc dù đang hoạt động tốt, cũng dễ bị lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả, mà cả hệ thống cũng bị ảnh hƣởng, gây ra sự bất ổn về trật tự, an ninh chính trị xã hội ở các địa phƣơng. Có thể thấy, tính dây chuyền vừa là điểm mạnh của QTDND, nhƣng cũng là một yếu điểm nội tại đặc thù của nó nên cần đƣợc đặc biệt lƣu ý và có biện pháp phòng ngừa hữu hiệu. Quỹ tín dụng nhân dân được tổ chức theo hình thức hợp tác "ĐỐI NHÂN" Theo đó, các thành viên tuy góp vốn nhiều mức độ khác nhau nhƣng hoàn toàn bình đẳng và dân chủ với nhau, không có chuyện “cá lớn ép cá bé".
Tất cả mọi thành viên góp vốn ít hay nhiều đều chỉ có một quyền biểu quyết nhƣ nhau trong Đại hội thành viên. Thành viên tham gia QTDND vừa là ngƣời góp vốn, vừa là ngƣời gửi vốn và vay vốn, thành viên đƣợc hƣởng các dịch vụ và kết quả hoạt động của QTDND.