CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HẢI QUAN ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU 1.1 Khái quát về doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu 1.1 Khái niệm doanh nghiệp Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào, doanh nghiệp cũng là một bộ phận thiết yếu quan trọng cấu thành nền kinh tế và có mối quan hệ chặt chẽ với các bộ phận khác. Sự phát triển của doanh nghiệp gắn liền với sự phát triển của các phương thức sản xuất. Hiện nay trên phương diện lý thuyết có khá nhiều định nghĩa thế nào là một doanh nghiệp, mỗi định nghĩa đều mang trong nó có một nội dung nhất định. Định nghĩa doanh nghiệp có nhiều cách hiểu, nếu xem xét ở các khía cạnh khác nhau.
Theo Viện Thống kê và Nghiên cứu kinh tế: “Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế mà chức năng chính của nó là sản xuất của cải và dịch vụ để bán”. Theo Khoản 7, Điều 4 Luật Doanh nghiệp số 68/2014/QH13 ngày 26/11/2014 đưa ra khái niệm về doanh nghiệp “là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Theo Đại Từ điển Tiếng Việt (1999): “Doanh nghiệp là tổ chức hoạt động kinh doanh của những chủ sở hữu có tư cách pháp nhân, nhằm mục đích kiếm lời ở một hoặc nhiều ngành”. Như vậy, khái niệm doanh nghiệp theo nghiên cứu có thể được hiểu là một tổ chức kinh tế, có tư cách pháp nhân hoặc không, thực hiện các hoạt động kinh doanh theo qui định của pháp luật, nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.2 Khái niệm về doanh nghiệp hoạt động xuất nhập khẩu Hoạt động xuất nhập khẩu là hoạt động trao đổi hàng hoá và dịch vụ giữa các quốc gia theo các hợp đồng mua bán hàng hóa bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất, tạm xuất tái nhập và chuyển khẩu hàng hóa.
Các doanh nghiệp này được thành lập theo các quy định của pháp luật, có đăng ký ngành nghề kinh doanh XNK và thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa. Do tính chất phức tạp và phạm vi hoạt động rộng của nó, nên doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu có thể được phân thành bốn nhóm cơ bản: 7 Nhóm thứ nhất, doanh nghiệp là chủ sở hữu của hàng hóa XK, NK: trong trường hợp này, doanh nghiệp tham gia vào hoạt động XK, NK có thể với tư cách vừa là chủ hàng hóa vừa trực tiếp tham gia vào quá trình làm thủ tục hải quan hoặc thuê đại lý, người nhận ủy thác xuất khẩu, nhập khẩu. Nhóm thứ hai, doanh nghiệp kinh doanh vận tải hàng hóa; doanh nghiệp kinh doanh kho bãi, cảng; doanh nghiệp kinh doanh địa điểm thu gom hàng lẻ; doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thu gom hàng lẻ; doanh nghiệp kinh doanh kho ngoại quan, doanh nghiệp kinh doanh kho bảo thuế, doanh nghiệp kinh doanh cửa hàng miễn thuế; ngân hàng; các công ty bảo hiểm. Nhóm thứ ba, doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ bưu chính quốc tế, chuyển phát nhanh quốc tế.
Nhóm thứ tư, doanh nghiệp làm đại lý làm thủ tục hải quan đáp ứng đủ điều kiện quy định tại khoản 1 Điều 20 Luật Hải quan năm 2014, là những công ty chuyên làm dịch vụ hải quan theo hợp đồng đại lý. Họ đứng tên đại lý trên tờ khai hải quan, ký tên và đóng dấu của mình vào ô người khai hải quan (với phần mềm ECUS4), hoặc dùng chữ ký số của mình để truyền tờ khai (ECUS5 - VNACCS). Đại lý thủ tục hải quan phải đứng tên trên tờ khai, với vai trò đại lý. Họ dùng chữ ký và dấu pháp nhân của mình để làm tờ khai.
Từ những nghiên cứu trên, học viên đưa ra quan điểm về doanh nghiệp hoạt động XNK là doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo các quy định của pháp luật, đáp ứng các điều kiện hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu và có tham gia vào hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu hàng hóa.2 Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu 1.1 Quản lý nhà nước về hải quan đối với doanh nghiệp xuất nhập khẩu Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều khái niệm về Quản lý do các nhà nghiên cứu và các tổ chức đưa ra. Quản lý nói chung theo nghĩa tiếng Anh là Administration vừa có nghĩa quản lý (hành chính, chính quyền), vừa có nghĩa quản trị (kinh doanh). Theo Mariparker Follit - nhà khoa học chính trị, nhà triết học Mỹ: “Quản lý là một nghệ thuật khiến công việc được thực hiện thông qua người khác”. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra những nỗ lực 8 của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”.
Harol Koontz (Những vấn đề cốt yếu của quản lý, NXB khoa học - Kỹ thuật, 1993): “Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác“ Nguyễn Minh Đạo (Cơ sở khoa học quản lý, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 1997): “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra“. Trong Giáo trình Khoa học về quản lý định nghĩa: “Quản lý là sự tác động liên tục, có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên khách thể quản lý trên các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, các nguyên tắc, các quy định và bằng các biện pháp cụ thể, nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng quản lý”. Hiểu một cách đơn giản nhất, quản lý chính là sự tác động của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý thông qua các công cụ quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức.
Đó là quá trình tạo nên sứcmạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạtđược mục tiêu chung. Quản lý bao gồm các yếu tố sau: Chủ thể quản lý: là tác nhân tạo ra các tác động quản lý. Chủ thể có thể là một cá nhân hoặc tổ chức. Khách thể quản lý: là trật tự quản lý trên các lĩnh vực.
Đối tượng quản lý: là nhân tố tiếp nhận sự tác động của chủ thể quản lý. Tùy theo từng loại đối tượng khác nhau mà người ta chia thành các dạng quản lý khác nhau. Mục tiêu quản lý: là cái đích cần phải đạt tới tại một thời điểm nhất định do chủ thể quản lý định trước. Là một phạm trù gắn liền với sự xuất hiện của Nhà nước, quản lý nhà nước ra đời với tính chất là loại hoạt động quản lý xã hội.
Quản lý nhà nước là một dạng của quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội 9 do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội. Theo nghĩa rộng, quản lý nhà nước có 03 chức năng cơ bản, đó là: chức năng lập pháp do cơ quan lập pháp thực hiện; chức năng hành pháp (chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; chức năng tư pháp do cơ quan tư pháp thực hiện. Hiểu theo nghĩa hẹp, quản lý nhà nước là hoạt động hành chính của cơ quan thực thi quyền lực nhà nước (quyền hành pháp) để quản lý, điều hành các lĩnh vực của đời sống xã hội theo quy định của pháp luật. Theo đó, quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quản lý được giới hạn trong các cơ quan hành pháp.Quản lý hành chính nhà nước là hoạt động quan trọng, thường xuyên của các cơ quan hành chính nhà nước để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của mình đối với việc quản lý xã hội.
Quản lý hành chính nhà nước được thực hiện trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có hải quan là lĩnh vực quan trọng và không thể thiếu được của các quốc gia có quan hệ giao thương kinh tế với nước khác, đặc biệt là trong thời đại toàn cầu hoá. Từ các lý luận chung về quản lý nhà nước, có thể đưa ra khái niệm Quản lý nhà nước về Hải quan như sau: Quản lý nhà nước về hải quan là hoạt động quản lý nhà nước đối với hàng hoá được xuất khẩu, nhập khẩu, quá cảnh, phương tiện vận tải xuất cảnh, nhập cảnh, quá cảnh của tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài trong lãnh thổ hải quan theo các quy định của pháp luật nhằm bảo đảm thực hiện chính sách của Nhà nước. Lãnh thổ Hải quan gồm những khu vực trong lãnh thổ quốc gia, trong vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam, nơi Luật Hải quan được áp dụng. Quản lý nhà nước về Hải quan là một mặt của công tác quản lý nhà nước về kinh tế.
Nó có vị trí quan trọng trong thực thi chính sách kinh tế của Nhà nước và đóng vai trò hết sức cần thiết để góp phần đảm bảo thực hiện chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học và công nghệ; hợp tác và giao lưu quốc tế; bảo vệ chủ quyền và an ninh quốc gia, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Nội dung quản lý nhà nước về hải quan: Theo Điều 99 Luật Hải quan: Nội dung quản lý nhà nước về hải quan bao gồm: 10 1. Xây dựng và chỉ đạo thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển Hải quan Việt Nam. Ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật về hải quan.
Hướng dẫn, thực hiện và tuyên truyền pháp luật về hải quan. Quy định về tổ chức và hoạt động của Hải quan. Đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ công chức hải quan. Tổ chức nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ, phương pháp quản lý hải quan hiện đại.
Thống kê nhà nước về hải quan. Thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về hải quan.