CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Đề tài về pháp luật về thuế xuất khẩu, nhập khẩu là một đề tài thu hút sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều nhà khoa học, nhiều tác giả cả ở phương diệnlý luận và thực tiễn. Tuy nhiên, nghiên cứu về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên phương diện chuyên sâu về quản lý nhà nước trong lĩnh vực này thì chưa có nhiều. Theo dõi các công trình nghiên cứu hoặc tài liệu liên quan đến thuế xuất khẩu, nhập khẩu cho thấy: Trong chương trình đào tạo bậc đại học, một số vấn đề của pháp luật quản lý thuế được đề cập ở nội dung giảng dạy như, “ Giáo trình Luật tàichính Việt Nam” của Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2002; “Giáo trìnhLuật thuế Việt Nam” của Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2005; “Giáotrình nghiệp vụ thuế” và “Giáo trình lý thuyết thuế” của Học viện Tàichính năm 2005… Ở chương trình đào tạo sau đại học chuyên ngành luật, một số luận vănvà luận án đề cập đến vấn đề quản lý thuế dưới giác độ nghiên cứu về từngvấn đề riêng lẻ trong toàn bộ quá trình quản lý thuế nói chung, chẳng hạn nhưluận án tiến sỹ luật học “Những vấn đề lý luận và thực tiễn của quản lý thuếtheo cơ chế tự khai, tự nộp” của nghiên cứu sinh Vũ Văn Cương; luận vănthạc sỹ luật học “Đổi mới và hoàn thiện pháp luật về thuế ở Việt Nam” của tácgiả Trần Trung Nhân; luận văn thạc sỹ luật học “Pháp luật Quản lý thuế vàvấn đề thực thi trong lĩnh vực hải quan” của tác giả Đoàn Mạnh Hải… Ngoài ra, có một số bài viết nghiên cứu trên báo, tạp chí liên quan đếnquản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu như bài viết “Thông tin về người nộpthuế trong luật quản lí thuế ở nước ta hiện nay” của ThS.Vũ Văn Cương đăngtrên Tạp chí Luật học số 4/2009; “Bản chất của thuế - sự tiếp cận từ các họcthuyết thuế cổ điển và hiện đại” của TS.
Nguyễn Văn Tuyến đăng trên Tạpchí luật học số 4/2009; “Các nguyên tắc của pháp luật thuế và mô hình cấuThuế xuất nhập khẩu trúc của hệ 5 thống pháp luật thuế” của TS. Nguyễn Văn Tuyến đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8/2008; bài viết “Phát triển bền vững và một số vấn đề đặt ra cho hệ thống pháp luật thuế Việt Nam” của TS. Phạm Thị Giang Thu đăng trên Tạp chí Luật học số 4/2009. Các công trình nghiên cứu trên phần nhiều đề cập đến một khía cạnh trong công tác quản lý thuế nói chung mà chưa đề cập chuyên sâu về quản lý trong lĩnh vực thuế xuất khẩu, nhập khẩu.
Cơ sở lý luận về thuế xuất nhập khẩu 1.Khái niệm thuế xuất nhập khẩu Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một khái niệm đồng nhất về thuế XKN. Thuế XNK thường có tên gọi chung là thuế quan (Custom duty). Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia. Giáo trình thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: Thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hoá XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam [33, tr 104] Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu (Impoprt duty) là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu.
Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài” [46, tr 439]. Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế XK, thuế NK cùng như các quan niệm về thuế XK, thuế NK ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể hiểu khái niệm chung về thuế XK, thuế NK như sau: Thuế XNK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động XNK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế XNK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. 6 Thuế XNK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động XNK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế XNK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Đặc điểm thuế xuất nhập khẩu Từ khái niệm về thuế XNK cho thấy, thuế XNK cũng có những đặc điểm của thuế nói chung đó là: Thứ nhất, thuế mang tính quyền lực Nhà nước.
Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt ra thuế XNK qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động XNK hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho NSNN. Thứ hai, thuế mang tính pháp lý cao. Thuếlà khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo. Thứ ba, thuế chứa đựng các yếu tố KT - XH.
Điều này được thể hiện ở chỗ thuế XNK là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế XNK vào ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu KT - XH của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ. Ngoài những đặc điểm chung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là: - Thuế XNK chỉ đánh vào hàng hoá được phép XNK qua biên giới của một nước, kể cả hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan đưa vào tiêu thụ trong nước. - Thuế XNK là một loại thuế gián thu. Nhà nước sử dụng thuế XNK để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa XK, NK.
Vì vậy, thuế XNK là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa XK, NK, người nộp thuế là người thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa; người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa XK, NK. Nhà nước thu thuế XNK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hóa XK, NK. Phân loại thuế xuất nhập khẩu Có nhiều cách phân loại thuế xuất nhập khẩu. Thứ nhất, Nếu căn cứ vào mục đích của thuế XNK, có thể chia thuế XNK thành các loại sau: - Loại để tạo nguồn thu: Thuế XNK được quy định đối với tất cả các mặt hàng để tăng nguồn thu cho Ngân sách quốc gia, không phân biệt khả năng sản xuất, nhu cầu bảo hộ và chính sách thương mại của quốc gia đó.
- Loại để bảo hộ: Loại thuế này thường được quy định có lựa chọn. Nếu trong nước có sản xuất hoặc có khả năng sản xuất nhưng chưa đủ sức cạnh tranh, cần có sự bảo hộ của Nhà nước thì cần phải xây dựng mức thuế bảo hộ để giảm bớt sự cạnh tranh với hàng hoá nhập khẩu. - Loại để trừng phạt: Loại thuế này thường được sử dụng để trả đũa lại những hành vi phân biệt đối xử của một quốc gia này đối với hàng hoá của một quốc gia khác. Ví dụ, Mỹ áp dụng mức thuế NK đối với hàng may mặc của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ cao hơn mức thuế thông thường đang áp dụng với các nước khác.
Để trả đũa lại hành vi phân biệt đối xử này, Trung Quốc đã áp dụng mức thuế nhập khẩu đối với ô tô của Mỹ xuất khẩu sang Trung Quốc cao hơn mức thuế thông thường đang áp dụng với các nước khác. Thứ hai, Nếu căn cứ vào phạm vi tác dụng của thuế XNK, có thể chia thuế XNK thành 2 loại: - Thuế XNK tự quản: là loại thuế thể hiện tính độc lập của một quốc gia, loại thuế này không phụ thuộc vào bất kỳ một Hiệp định song phương hoặc đa phương nào đã ký kết, nó được quy định tuỳ ý theo mục tiêu của mỗi quốc gia. - Thuế XNKtheo các cam kết quốc tế: là loại thuế thực hiện theo các cam kết trong các Hiệp định song phương hoặc đa phương đã ký kết. Ví dụ phân loại thuế NK thành thuế NK ưu đãi, ưu đãi đặc biệt, thông thường tuỳ theo quan hệ thương mại giữa các nước mà áp dụng cho phù hợp.
Thứ ba, Nếu căn cứ vào cách thức đánh thuế, có thể chia thuế XNK thành: 8 - Thuế tuyệt đối: là loại thuế tính theo một số tiền nhất định cho mỗi đơn vị hàng hoá XNK. Ví dụ, quy định thuế NK xăng phải nộp là 500 VNĐ/1lít xăng không phân biệt giá NK là bao nhiêu. - Thuế theo tỷ lệ phần trăm: loại thuế này được tính theo tỷ lệ phần trăm (%) trên trị giá XNK thực tế của mỗi đơn vị hàng hoá XNK. Số thuế XNK phải nộp theo tỷ lệ % sẽ thay đổi tuỳ theo trị giá XNK thực tế của hàng hoá.
Ví dụ, quy định thuế NK phải nộp của một lít xăng là 20%/giá NK thực tế 1lít xăng. - Thuế hỗn hợp: là trường hợp áp dụng hỗn hợp thuế tuyệt đối và thuế theo tỷ lệ %. Ví dụ: xăng thu thuế NK 15% + 30 usd/tấn. - Thuế theo lượng thay thế: là trường hợp một mặt hàng được quy định đồng thời thuế tính theo tỷ lệ % và thuế theo một số tiền tuyệt đối; nhưng khi tính và nộp thuế phải tính và nộp theo số thuế nào cao hơn.
Ví dụ, hải quan sẽ thu thuế NK 500 VNĐ/1lít xăng hoặc 20% tuỳ theo số thuế nào lớn hơn. Ngoài ra có thể phân loại thuế XNK theo xu hướng vận động của hàng hoá (thuế XK, thuế NK). Thuế XK và NK đều tác động tới giá cả hàng hoá có liên quan. Nhưng thuế XK lại khác thuế NK ở chỗ: Một là, nó áp dụng cho hàng xuất khẩu chứ không phải hàng nhập khẩu.
Hai là, nó làm giảm giá cả quốc tế của hàng bị đánh thuế vượt giá cả trong nước, dẫn đến bất lợi cho khả năng xuất khẩu. Mức thuế xuất khẩu cao và duy trì lâu sẽ có lợi cho đối thủ cạnh tranh, vì vậy các nước phát triển hầu như không đánh thuế xuất khẩu. Riêng ở Việt Nam, thuế xuất khẩu chỉ áp dụng đối với một số mặt hàng để bổ sung nguồn thu ngân sách nhằm hạn chế xuất khẩu những thứ không khuyến khích. Vai trò của thuế xuất nhập khẩu 9 Tạo nguồn thu cho NSNN.