CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ INCOTERMS 1. TỔNG QUAN VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1. Khái niệm Theo Luật thương mại năm 2005 của nước CHXHCN Việt Nam: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt đồng nhằm mục đích sinh lợi khác”. Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu về hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền Sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.
Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. Xúc tiến thương mại là hoạt động thúc đẩy, tìm kiếm cơ hội mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ, bao gồm hoạt động khuyến mại, quảng cáo thương mại, trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ và hội chợ, triển lãm thương mại. Qua đây có thể hiểu, thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ giữa các chủ thể (quốc gia, tổ chức, thương nhân…) ở các quốc gia khác nhau trên cơ sở nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đem lại lợi ích cho các bên. Đặc điểm TMQT còn được hiểu là các hoạt động thương mại vượt qua biên giới quốc gia hoặc biên giới hải quan.
TMQT có sự khác biệt với thương mại nội địa ở các yếu tố nước ngoài tạo nên hoạt động thương mại như: - Về chủ thể: một hoặc các bên quan hệ có quốc tịch hoặc nơi cư trú ở nước ngoài (đối với pháp nhân có trụ sở ở nước ngoài). 9 - Về khách thể: hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của quan hệ ở nước ngoài. - Về sự kiện pháp lý: sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quan hệ xảy ra ở nước ngoài. Trong TMQT, hàng hóa được trao đổi, vận chuyển ra khỏi biên giới quốc gia hoặc biên giới hải quan và có yếu tố nước ngoài tạo nên một số đặc trưng cơ bản như: - Hàng hóa trong TMQT phải làm thủ tục hải quan để thông quan XNK nhằm mục đích đảm bảo các tiêu chuẩn an toàn, kiểm tra và kiểm soát hàng hóa lưu thông, tính thuế và một số mục đích khác như thống kê.
- Các chủ thể sử dụng các phương thức giao dịch TMQT, giao nhận quốc tế và thanh toán quốc tế, chúng có những điểm khác biệt và phức tạp hơn nhiều so với thương mại nội địa. - Mối quan hệ trong TMQT được điều chỉnh bằng luật pháp quốc tế. - Rủi ro trong TMQT lớn hơn nhiều so với thương mại nội địa, thường là rủi ro về kinh tế, chính trị do có sự khác biệt giữa các quốc gia. Vai trò Đối với doanh nghiệp - Thương mại quốc tế là một bộ phận của nền kinh tế liên quan đến quá trình trao đổi hàng hoá và dịch vụ với các nước khác, cho nên trước hết nó thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp.
- Thông qua TMQT các doanh nghiệp có thể tăng hiệu quả sản xuất, kinh doanh, mở rộng quy mô và đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm tạo cho doanh nghiệp đạt được sự tăng trưởng bền vững. - TMQT giúp nâng cao vị thế của doanh nghiệp, tạo thế và lực cho doanh nghiệp không những ở thị trường quốc tế, mà cả thị trường trong nước thông qua việc mua bán hàng hoá ở thị trường trong và ngoài nước, cũng như việc mở rộng các quan hệ bạn hàng. Ngoài ra, kinh doanh thương mại quốc tế có vai trò điều tiết, hướng dẫn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. 10 Đối với nền kinh tế quốc dân - TMQT giúp cho nền kinh tế ngày càng lớn mạnh, cải thiện được cán cân thương mại, tăng trưởng GDP, nâng cao trình độ phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia thông qua việc sử dụng tốt hơn nguồn vốn lao động và tài nguyên của đất nước, tăng hiệu quả sản xuất, nâng cao trình độ khoa học – công nghệ, kích thích sự phát triển của lực lượng sản xuất, làm nảy sinh các nhu cầu tiềm tàng của người tiêu dùng.
- TMQT còn góp phần mở rộng các quan hệ kinh tế đối ngoại, nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. GIỚI THIỆU CHUNG VỀ INCOTERMS 1. Khái niệm Về thuật ngữ, “Incoterms” là từ viết tắt bằng tiếng Anh của cụm từ “International Commercial Terms”, được hiểu là “Các điều kiện thương mại quốc tế” (ĐKTMQT) do Phòng TMQT - ICC phát hành. Về bản chất, Incoterms được coi là bộ tập quán TMQT, phản ánh các tập quán thương mại phổ biến trong hoạt động MBHHQT một cách đơn giản, rõ ràng, dễ hiểu và dễ áp dụng.
Theo điều 3, Luật Thương mại 2005 định nghĩa: “Tập quán thương mại là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong hoạt động thương mại trên một vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại”. Như vậy, tập quán thương mại có thể hiểu là: - Thói quen thương mại: “Thói quen trong hoạt động thương mại là quy tắc xử sự có nội dung rõ ràng được hình thành và lặp lại nhiều lần trong một thời gian dài giữa các bên, được các bên mặc nhiên thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng thương mại” (Điều 3, Luật Thương mại 2005) - Có tính phổ biến, được thừa nhận rộng rãi - Có nội dung rõ ràng 11 - Xác định quyền và nghĩa vụ các bên Trong Incoterms, các ĐKTMQT được giải thích cụ thể, rõ ràng, mỗi ĐKTMQT được viết tắt bằng ba chữ cái (ví dụ: EXW, FCA). Đây là những điều kiện được sử dụng phổ biến trong TMQT và thể hiện tập quán thương mại của các doanh nghiệp trong hợp đồng MBHHQT. Về nội dung, Incoterms phân chia nghĩa vụ, rủi ro và chi phí giữa người mua và người bán trong quá trình vận chuyển hàng hóa.
Đồng thời, Incoterms cũng là nguồn căn cứ pháp lý để giải quyết tranh chấp trong hợp đồng MBHHQT. Giáo trình Thanh toán quốc tế và tài trợ ngoại thương định nghĩa: “Điều kiện thương mại quốc tế (Incoterms) là những thuật ngữ ngắn gọn được hình thành trong thực tiễn thương mại để phân chia trách nhiệm về chi phí và rủi ro đối với hàng hóa giữa người mua và người bán trong giao nhận hàng hóa” (Nguyễn Văn Tiến & Nguyễn Thị Hồng Hải, 2016). Các nghĩa vụ cơ bản về quá trình vận tải hàng hóa quốc tế được đề cập trong Incoterms như là nghĩa vụ giao hàng, thuê tàu, mua bảo hiểm, nhận hàng, thông quan hàng hóa, thông báo và cung cấp các chứng từ giao hàng. Về mặt chi phí, Incoterms quy định ai sẽ là bên chịu trách nhiệm trả các chi phí như bốc xếp hàng hóa, chi phí vận tải chặng chính, chi phí mua bảo hiểm hàng hóa, chi phí thông quan XNK và các chi phí phát sinh khác trong quá trình vận chuyển hàng hóa.
Tương tự, Incoterms cũng chỉ rõ địa điểm chuyển giao rủi ro về hàng hóa giữa người mua và người bán. Cụ thể những rủi ro mất mát, hư hỏng hàng hóa vì nguyên nhân bất khả kháng do thiên nhiên gây nên (như bão, động đất, núi lửa), hoặc nguyên nhân bất khả kháng do con người gây nên (như cướp biển, chiến tranh, đình công). Về hình thức, mỗi điều kiện trong Incoterms được trình bày theo 2 nhóm trách nhiệm của người mua và trách nhiệm của người bán. Các nghĩa vụ, chi phí, rủi ro của mỗi bên được thể hiện thông qua mười điều khoản từ A1/B1 đến A10/B10.
Incoterms ra đời đã đáp ứng được nhu cầu thực tiễn là thống nhất các thói quen chung trong thương mại thành các điều khoản rõ ràng, dễ hiểu; góp phần hạn 12 chế các mâu thuẫn nảy sinh trong giao thương giữa các doanh nghiệp trên toàn thế giới; là cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp một cách thấu đáo. Từ các khía cạnh trên, có thể hiểu Incoterms là tập hợp các tập quán TMQT do ICC soạn thảo và ban hành. Các ĐKTMQT được giải thích ngắn gọn, phân chia và mô tả trách nhiệm của các bên trong HĐMBHHQT. Incoterms được công nhận và sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp khi thực hiện hoạt động XNK hàng hóa.
Quá trình phát triển của Incoterms Trước đây, hoạt động giao thương giữa các quốc gia còn nhiều khó khăn do khoảng cách địa lý, giao thông vận tải chưa phát triển, chưa có những cơ sở pháp lý chung để thống nhất các điều khoản trong hợp đồng. Mỗi quốc gia hoặc khu vực trên thế giới sẽ có những cách giải thích và vận dụng các tập quán thương mại khác nhau. Do đó, hoạt động TMQT còn ẩn chứa nhiều rủi ro và mâu thuẫn. Ngày nay, hội nhập kinh tế thế giới càng được mở rộng nhờ sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin, mạng lưới vận tải hàng hóa, liên lạc, các phương tiện chuyên chở, các hiệp định kinh tế giữa các quốc gia được ký kết, sự hình thành các khối liên minh kinh tế - tài chính… Sự phát triển này cũng kéo theo nhu cầu tất yếu là phải có sự thống nhất giữa các tập quán thương mại, cần có những quy tắc chung được công nhận và sử dụng rộng rãi trong TMQT, phân chia rõ ràng nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng.
Đáp ứng những đòi hỏi của thực tiễn, sau khi thành lập vào năm 1919 ICC hướng tới mục tiêu tạo thuận lợi cho TMQT nên đã thành lập ban nghiên cứu, tổng hợp các tập quán thương mại của các quốc gia trên thế giới sau đó biên soạn thành bộ các quy tắc giải thích điều kiện TMQT, còn được gọi là Incoterms. Phiên bản Incoterms đầu tiên ra đời vào năm 1936, sau đó ICC cũng đã ban hành các bản sửa đổi để bắt kịp với sự thay đổi của nền thương mại thế giới. Tính đến nay, Incoterms đã có 9 phiên bản, trải qua 8 lần sửa đổi vào các năm 1953, 1967, 1976, 1980, 1990, 2000, 2010 và 2020. Phiên bản Incoterms mới ra đời không phủ nhận các phiên bản trước đó, chúng tồn tại song song và có giá trị như nhau.