CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HỘ KINH DOANH VÀ PHÁP LUẬT VỀ HỘ KINH DOANH 1. KHÁI QUÁT VỀ HỘ KINH DOANH 1. Khái niệm hộ kinh doanh Khoản 1, 2, Điều 66, Nghị định số 78/2015/NĐ-CP là một văn bản quy phạm pháp luật quy định những vấn đề cơ bản nhất về HKD, đã hết hiệu lực thi hành quy định về HKD như sau: “Điều 66. Hộ kinh doanh 1.
Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc một nhóm người gồm các cá nhân là công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ, hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng dưới mười lao động và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Hộ kinh doanh có sử dụng từ mười lao động trở lên phải đăng ký thành lập doanh nghiệp theo quy định. Từ quy định trên, ta thấy, thời điểm đó, nhà làm luật Việt Nam vẫn chưa đưa ra được một định nghĩa rõ ràng về HKD.
Tại Khoản 1, để một đơn vị kinh tế được xác định là HKD phải dựa trên đối tượng là chủ thể tạo lập ra nó cùng với trách nhiệm vô hạn của các chủ thể ấy đối với hoạt động kinh doanh của HKD. Bên cạnh việc dựa vào đối tượng thành lập, việc xác định một HKD còn phải thỏa mãn điều kiện về số lượng người lao động làm việc cho HKD bởi pháp luật về HKD thời điểm đó bắt buộc khi HKD có từ 10 lao động trở nên phải chuyển đổi thành một trong các loại hình doanh nghiệp. Không những thế, còn kèm theo điều kiện phải đăng ký kinh doanh tại một địa điểm duy nhất. 6 Tại Khoản 2, nhà làm luật đưa ra một điều khoản “loại trừ”, theo đó, mặc dù có thể không rơi vào các trường hợp quy định tại Khoản 1, Điều này thế nhưng nếu đó là HGĐ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng dong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp thì không phải đăng ký kinh doanh, trừ khi các đối tượng này kinh doanh những ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì vẫn được coi là HKD.
Khoản 1, 2, Điều 79, Nghị định số 01/2021/NĐ-CP là Nghị định mới ra đời, thay thế cho Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, quy định những vấn đề cơ bản về HKD như sau: “Điều 79. Hộ kinh doanh 1. Hộ kinh doanh do một cá nhân hoặc các thành viên hộ gia đình đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên hộ gia đình đăng ký hộ kinh doanh thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện hộ kinh doanh.
Cá nhân đăng ký hộ kinh doanh, người được các thành viên hộ gia đình ủy quyền làm đại diện hộ kinh doanh là chủ hộ kinh doanh. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương. Như vậy, từ quy định trên, ta thấy Pháp luật Việt Nam hiện hành không đưa ra một định nghĩa cụ thể nào về HKD, nhưng dựa vào Khoản 1, có thể hình dung ra HKD, là một thực thể có những đặc điểm sau: Thứ nhất, về năng lực chủ thể của HKD.
HKD không có tư cách pháp nhân. Theo điều 74, Bộ luật dân sự năm 2015, “Pháp nhân” cũng là một đối tượng không được định nghĩa rõ ràng, theo đó, một tổ chức được coi là có tư cách pháp nhân khi nó đáp ứng được các điều kiện được quy định tại điều này. Mà HKD không phải là một tổ chức. Do đó, nó không được coi là một pháp nhân.
7 Thứ hai, về chủ thể thành lập, là một cá nhân hoặc các thành viên trong HGĐ thực hiện hoạt động đăng ký thành lập HKD theo các quy định của pháp luật về đăng ký thành lập HKD. Các chủ thể này phải là công dân mang quốc tịch Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở nên. Thứ ba, về trách nhiệm vật chất của chủ sở hữu HKD. Chủ sở hữu HKD phải chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình đối với hoạt đông kinh doanh của hộ.
Điều này có nghĩa là chủ HKD sẽ phải sử dụng toàn bộ tài sản thuộc sở hữu của mình để chịu trách nhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính của HKD. Đối với HKD do các thành viên HGĐ thành lập thì các thành viên trong hộ có nghĩa vụ liên đới hay nói cách khác là bất cứ ai trong hộ cũng có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Tại khoản 2, tương tự như Nghị định số 78/2015/NĐ-CP, nhà làm luật đưa ra một điều khoản mang tính chất “loại trừ”. Theo đó, đối tượng “Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký hộ kinh doanh, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.” tuy không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 nhưng vẫn được coi là HKD. Như vậy, ta có thể thấy, đặc điểm của HKD như thế nào phụ thuộc vào pháp luật của quốc gia trao cho nó, ở mỗi một quốc gia khác nhau, đặc điểm của chúng lại khác nhau, thậm chí tuy là trong cùng một quốc gia nhưng ở các thời kỳ khác nhau thì những đặc điểm của chúng cũng có thể khác nhau; tương tự như “Pháp nhân” là “con người được tạo ra bởi pháp luật”, do đó, dựa trên các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam, ta có thể đưa ra định nghĩa về HKD như sau: HKD là một mô hình kinh doanh do một cá nhân hoặc thành viên của HGĐ ủy quyền cho một thành viên của hộ đăng ký thành lập trong trường hợp phải đăng ký thành lập hoặc không phải đăng ký thành lập trong trường hợp pháp luật không yêu cầu đăng ký thành lập và tự chịu trách nhiệm đối với cá nhân và liên đới chịu trách nhiệm đối với HGĐ về toàn bộ hoạt động kinh doanh của HKD. Phân loại hộ kinh doanh Có thể dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau để tiến hành phân loại HKD. Thứ nhất là căn cứ vào Thủ tục tạo dựng, HKD được chia thành hai loại là HKD có đăng ký và HKD không có đăng ký.
Theo đó, HKD không có đăng ký kinh doanh là trường hợp HGĐ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp (Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trong phạm vi địa phương) những ngành nghề kinh doanh mà đối tượng này lựa chọn để kinh doanh không phải là ngành nghề kinh doanh có điều kiện. HKD có đăng ký kinh doanh là HKD rơi vào hai trường hợp đó là: Trường hợp thứ nhất: Trường hợp HGĐ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, kinh doanh thời vụ, làm dịch vụ có thu nhập thấp (Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trong phạm vi địa phương) nhưng lại là ngành nghề kinh doanh có điều kiện thì phải tiến hành đăng ký kinh doanh; Trường hợp thứ hai: HKD do đối tượng là một cá nhân hoặc các thành viên HGĐ đăng ký thành lập và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh của hộ. Trường hợp các thành viên HGĐ đăng ký HKD thì ủy quyền cho một thành viên làm đại diện HKD. Cá nhân đăng ký HKD, người được các thành viên HGĐ ủy quyền làm đại diện HKD là chủ HKD.
Thứ hai là căn cứ vào Phương pháp đóng thuế: Hộ khoán; Hộ kê khai; HKD khai thuế thông qua tổ chức cá nhân khai thay, nộp thay; HKD kê khai theo phương pháp từng lần phát sinh; HKD kê khai kê khai theo phương pháp đặc thù khác áp dụng cho thuê tài sản và đại lý bán đấu giá. Thứ ba là căn cứ vào Nghĩa vụ thuế của HKD: HKD phải đóng thuế, HKD không phải đóng thuế. Thứ tư là căn cứ vào Ngành nghề kinh doanh: HKD kinh doanh những ngành nghề kinh doanh có điều kiện, HKD kinh doanh những ngành nghề được phép kinh doanh mà không thuộc ngành nghề kinh doanh có điều kiện. 9 Thứ năm là căn cứ vào Chủ thể thành lập HKD: HKD do một cá nhân làm chủ, HKD do một HGĐ làm chủ nhưng ủy quyền cho một thành viên khác trở thành chủ HKD.
Vai trò của hộ kinh doanh Việt Nam là đất nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng. Hoàng Vũ (2021) cho rằng theo JAKARTA GLOBE đánh giá, sau 35 năm kể từ khi tiến hành công cuộc đổi mới, Nền kinh tế của nước ta phát triển mạnh mẽ, nằm trong top năm quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng nhất trên thế giới trong hơn ba thập niên vừa qua. Tuy nhiên, theo tác giả thấy, Việt Nam vẫn là một quốc gia đang phát triển, với số vốn không nhiều và kèm theo tâm lý “ngại vay mượn”; mong muốn phát triển từ kinh doanh nhỏ sang kinh doanh lớn đặc biệt là đối với những đối tượng muốn khởi nghiệp; tâm lý phát triển những nghành nghề truyền thống, “mang tính chất cha truyền con nối”; tâm lý thích sự đơn giản, linh hoạt trong quản lý; nghĩa vụ thuế thấp, trình tự thủ tục thành lập đơn giản.