Chương 1 HOẠCH ĐỊNH CHIẾN LƯỢC VÀ KÉ HOẠCH KINH DOANH XUẤT NHẬP KHẨU 1. QUAN TRI XUAT NHAP KHAU 1. Khai niệm Quản trị kinh doanh Quản trị (Management) là hoạt động không thé thiểu trong mọi doanh nghiệp, mọi tổ chức. Một khi con người đã kết hợp lại trong tập thể, thì cần có hoạt động quản trị để hướng tất cả mọi người theo mục tiêu chung, giúp mọi người phối hợp với nhau một cách hợp lý, khoa học, trên cơ sở đó tập thể mới có thể hoạt động hiệu quả.
Quản trị có tầm quan trọng đặc biệt như vậy, nên có rất nhiều có trường phái, tác giả tập trung nghiên cứu về vấn đề này. nhiều cách diễn giải khác nhau xung quanh thuật ngữ “Quản Trong giáo trình “Những vấn đề căn bản về quản trị” các tác giả Koontz và O'Donnell cho rằng: “Có lẽ không có lĩnh vực hoạt động mọi nào của con người quan trọng hơn công tác quản trị, bởi vì vụ nhà quản trị ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm cơ bản là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau theo nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định". Còn Stoner và Robbins đưa ra định nghĩa: “Quản trị là tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức, quản trị con người, và kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị, một cách có hệ thống, nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó”. Tán đồng quan điểm của các tác giả này, chúng tôi cho rằng: Quản trị kinh doanh là chuỗi hoạt động phức tạp, trong đó các nhà quản trị phải tổ chức mọi hoạt động tử khâu đầu đến khâu cuối của chuỗi hoạt động kinh doanh.
Nói một cách khác, quản trị kinh doanh là 25 CHUONG1 tổng hợp các hoạt động hoạch định chiến lược và kế hoạch kinh doanh, tổ chức thực hiện và kiểm tra, kiểm soát toàn bộ hoạt động kinh doanh của tỗ chức sao cho đạt được mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất. Trong điêu kiện hội nhập và toàn cầu hóa, ngoại| thong— thương mai quéc té la hoat động không thể thiếu của mỗi quốc gia. Trong điều kiện hiện đại, mỗi doanh nghiệp dù ít hay nhiều cũng đều có liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế. Bộ phận quan trọng của thương mại hàng hóa quốc tế là xuất khẩu, nhập khẩu.
Hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu chỉ được thực hiện có hiệu quả một khi được quản trị tốt. Đề hiểu rõ về khái niệm quản trị xuất nhập khẩu, trước hết cần tìm hiểu những khái niệm có liên quan. Những khái niệm có liên quan Theo điều 3.1, Luật Thương mại (2005) của Việt Nam, hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.8, Luật Thương mại (2005), mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận. Trong mua bán hàng hóa thì mua bán hàng hóa quốc tế ngày càng phát triển và khẳng định vị thế quan trọng của mình, Trong cuộc sống hàng ngày, người ta thường đồng nhất hai khái niệm “ngoại thương — mua bán hàng hóa quốc tế” và "xuất nhập khẩu", sự thật không phải như vậy.
Khái niệm “ngoại thương” rộng hơn khái niệm “xuất nhập khẩu”, "ngoại thương” bao trùm “xuất nhập khẩu”. Theo điều 27, Luật Thương mại (2005), mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuắt, tái nhập và chuyễn khẩu. Theo điều 28, Luật Thương mại (2005), 26 QUẦN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU 1. Xuất khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thỗ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật.
Nhập khẩu hàng hóa là việc hàng hóa được đưa vào lãnh thể Việt Nam từ nước ngoài hoặc từ khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thỗ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Theo điều 29, Luật Thương mại (2005), 1. Tam nhập, tái xuất hàng hóa là việc hàng hóa được đưa từ nước ngoài hoặc từ các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật vào Việt Nam, có làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và làm thủ tục xuất khẫu chính hàng hóa đó ra khỏi Việt Nam. Tạm xuất, tái nhập hàng hóa là việc hàng hóa được đưa ra nước ngoài hoặc đưa vào các khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật Việt Nam, có làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam va làm thủ tục nhập khẩu chính hàng hóa đó vào Việt Nam.
Theo điều 30, Luật Thương mại (2008), 4. Chuyến khẩu hàng hóa là việc mua hàng từ một nước, vùng lãnh thổ để bán sang một nước, vùng lãnh thổ ngoài lãnh thổ Việt Nam mà không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam. Chuyển khẩu hàng hóa được thực hiện theo các hình thức sau đây: a) Hàng hóa được vận chuyển thẳng từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu không qua cửa khẩu Việt Nam; b) Hàng hóa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam nhưng không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt. Nam và không làm thủ tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam; CHUONG 1 c) Hang hoa được vận chuyển từ nước xuất khẩu đến nước nhập khẩu có qua cửa khẩu Việt Nam và đưa vào kho ngoại quan, khu vực trung chuyển hàng hóa tại các cảng Việt Nam, không làm thủ tục nhập khẩu vào Việt Nam và không làm thử tục xuất khẩu ra khỏi Việt Nam.
Bên cạnh hình thức mua bán hàng hóa trực tiếp giữa người mua và người bán thông qua hợp đồng mua bán hàng hóa (xem chỉ tiết chương 7), còn nhiều hình thức giao dịch khác, như: mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa; mua bán hàng hóa tại các hội chợ, triển lãm thương mại; mua bán qua đại diện cho thương nhân; mua bán qua môi giới thương mại; Ủy thác mua bán hàng hóa; đại lý thương mại, Đấu giá hàng hóa; Đáu thầu hàng hóa; Thương mại điện tử. Theo điều 63, Luật Thương mại (2005), mua bán hàng hóa qua Sở giao dịch hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó các bên thỏa thuận việc mua bán một lượng nhất định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở giao dịch hàng hóa theo những tiêu chuẩn của Sở giao dịch hàng hóa với giá được thỏa thuận tại thời điểm giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm trong tương lai. Theo điều 129, Luật Thương mại (2005), hội chợ, triển lãm thương mại là hoạt động xúc tiên thương mại được thực hiện tập trung trong một thời gian và tại một địa điểm nhất định để thương nhân trưng bày, giới thiệu hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích thúc đây, tìm kiếm cơ hội giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng dịch vụ. Theo điều 141, Luật Thương mại (2005), đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận ủy nhiệm (gọi là bên đại diện) cho thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện.
Theo điều 150, Luật Thương mại (2005), môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làn trung gian 28 QUẦN TRỊ XUẤT NHẬP KHẨU (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới. Theo điều 155, Luật Thương mại (2005), ủy thác mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận ủy thác thực hiện việc mục bán với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thỏa thuận với bên ủy thác và được nhận thù lao ủy thác. Theo điều 166, Luật Thương mại (2005), đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thỏa thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hóa cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao. Theo điều 185, Luật Thương mại (2005), 1/ Đấu giá hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tỗ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hóa công khai để chọn được người mua trả giá cao nhất.
2/ Việc đấu giá hàng hóa được thực hiện theo một trong hai phương thực sau đây: a) Phương thức trả giá lênla2 phương thức bán đấu giá, theo đó người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm là người có quyền mua hàng; b) Phương thức đặt giá xuống là phương thức bán đấu giá, trong đó người đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng. Theo điều 214, Luật Thương mại (2005), đấu thầu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hóa, dịch vụ thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham gia đấu thâu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt nhất yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện hợp đồng (gọi là bên trúng thầu). Theo điều 215, Luật Thương mại (2008), có hai hình thức đấu thầu: a) Đấu thầu rộng rãi là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu không hạn chế số lượng các bên dự thầu. b} Đầu thầu hạn chế là 29 CHUONG I hình thức đấu thầu mà bên mời thầu chỉ mời một số nhà thầu nhất định dự thầu.