Chương 1: Tổng quan của vấn đề nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý luận của quản trị rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu. Chương 3: Thực trạng Quản trị rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của Công ty TNHH giao nhận quốc tế Đại Dương. Chương 4: Đề xuất giải pháp cho hoạt động quản trị rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của Công ty TNHH giao nhận quốc tế Đại Dương.
5 CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG QUY TRÌNH GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU 2. Một số khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về nguy cơ, rủi ro và tổn thất. a) Khái niệm về nguy cơ Một mối nguy (hay nguy cơ) là tác nhân có khả năng gây hại cho các mục tiêu dễ bị tổn thương.
Các thuật ngữ “mối nguy” và rủi ro” thường được sử dụng thay thế cho nhau. Tuy nhiên, về mặt đánh giá rủi ro, chúng là hai thuật ngữ rất khác biệt. Một mối nguy (nguy cơ) là bất kỳ tác nhân nào có thể gây tổn hại sức khoẻ và tính mạng cho con người, hay gây thiệt hại về tài sản hoặc môi trường. Các nguy cơ có thể được phân loại theo nhiều cách.
Một trong những cách này là phân loại bằng cách chỉ ra nguồn gốc của mối nguy (phân theo nguồn gốc mối nguy). Một khái niệm quan trọng trong việc xác định mối nguy theo nguồn gốc là sự hiện diện của năng lượng được lưu trữ trong mối nguy, khi được giải phóng, có thể gây ra thiệt hại. b) Khái niệm rủi ro Rủi ro là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình. Trong cuộc sống và công việc hàng ngày, rủi ro có thể xuất hiện trên mọi lĩnh vực, không ngoại trừ một ai, một quốc gia, một dân tộc nào.
Rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy đến (Theo từ điển tiếng Việt do Trung tâm từ điển học Hà Nội xuất bản năm 1995), Rủi ro là khả năng gặp nguy hiểm hoặc bị đau đớn, thiệt hại…(dịch từ nguyên bản Từ điển Oxford). Như vậy, “Rủi ro là những sự kiện bất ngờ ngoài mong đợi của con người và gây những thiệt hại cho con người trong các hoạt động của mình. Mặc dù rủi ro là sự kiện khách quan. xảy ra ngoài ý muốn của con người, những con người lại hoàn toàn có thể kiểm soát được rủi ro ở những mức độ khác nhau, từ đó có những biện pháp hạn chế tối đa những tổn thất do rủi ro mang đến.TS Doãn Kế Bôn, 2009) Khi nói đến rủi ro có ba vấn đề quan trọng cần lưu ý: 6 Rủi ro là sự kiện bất ngờ đã xảy ra.
Bất ngờ là con người không thể lường trước được một cách chắc chắn, nó có thể xuất hiện ở một thời điểm bất kì trong tương lai và bất kỳ ở đâu. Sự kiện bất ngờ đó phải xảy ra thì mới được coi là rủi ro. Rủi ro là những sự cố gây ra tổn thất. Khi rủi ro xảy ra, luôn để lại những hậu quả (có thể là hậu quả nghiêm trọng hoặc ít nghiêm trọng, hậu quả trực tiếp hoặc hậu quả gián tiếp).
Rủi ro là sự kiện ngoài mong đợi. Rủi ro mang lại tổn thất, là sự cố bất ngờ và vì thế, nó là điều không được mong đợi của mọi người trong mọi hoạt động. Nó có tính khó lường trước, tính khách quan và loại bỏ các ý đồ chủ quan của chủ thể tham gia các hoạt động. Ba vấn đề trên được coi là điều kiện của rủi ro.
Việc nghiên cứu rủi ro được xem xét trong những phạm vi nhất định, gắn với từng đối tượng nhất định, gắn với từng đối tượng nhất định trong từng hoạt động, bởi rất có thể một sự kiện xảy ra được coi là rủi ro đối với người này, công ty này nhưng lại là cơ hội, sự may mắn đối với người khác, công ty khác. c) Khái niệm về tổn thất Tổn thất là những thiệt hại, mất mát về tải sản, về con người, tinh thần, sức khỏe và sự nghiệp của họ do những nguyên nhân từ các rủi ro gây ra (PGS.TS Doãn Kế Bôn, 2009, Giáo trình quản trị tác nghiệp thương mại quốc tế, Tr 336). Tổn thất có thể là hữu hình (tổn thất tài sản, con người,…và cũng có thể là vô hình (tinh thần, đe dọa sự nghiệp,. Tổn thất vô hình hoàn toàn có thể đo lường và quy đổi ra thành tiền, và trong không ít các trường hợp tổn thất vô hình còn lớn hơn cả tổn thất hữu hình, chẳng hạn, vì rủi ro chậm trễ thời gian trong vận chuyển hàng hóa, đã bỏ lỡ cơ hội kinh doanh, dẫn đến không được hưởng lãi và còn bị phạt hợp đồng, giảm uy tín trong kinh doanh,.
Trong thực tế hoạt động thương mại quốc tế, thường người ta chỉ đề cập đến những tổn thất hữu hình. Khái niệm quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu Theo quy tắc mẫu của FIATA về dịch vụ giao nhận: “Giao nhận vận tải là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như cũng như các dịch vụ tư vấn hay có liên quan 7 đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan, tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hoá”. Trong xu thế thương mại toàn cầu hoá cùng với sự phát triển nhiều hình thức vận tải mới trong những thập niên qua. Ngày nay, quy trình giao nhận vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu giữ vai trò quan trọng trong vận tải và buôn bán quốc tế.
Những người giao nhận vận tải hàng hoá xuất nhập khẩu thực hiện không chỉ dừng lại ở các công việc cơ bản truyền thống như đặt chỗ đúng hàng, nơi dựng để kiểm tra hàng hoá, giao nhận hàng hoá mà còn thực hiện những dịch vụ chuyên nghiệp hơn như tư vấn chọn tuyến đường vận chuyển, chọn tàu vận tải, đóng gói bao bì hàng hoá, .v… Như vậy, quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu là chuỗi các hoạt động và quy trình được thực hiện để chuyển giao hàng hóa từ nguồn cung cấp (nhà sản xuất hoặc nhà xuất khẩu) đến điểm đích (nhà nhập khẩu hoặc khách hàng cuối cùng). Quy trình này bao gồm các bước như booking, nhận và đóng gói hàng hóa, làm thủ tục hải quan xuất/nhập khẩu, phát hành vận đơn, gửi bộ chứng từ cùng lô hàng, thông báo hàng đến, thanh toán phí và lệnh giao hàng, làm thủ tục hải quan, nhận và kiểm hàng. Quy trình này có thể có nhiều biến thể tùy thuộc vào loại sản phẩm, phương tiện vận chuyển và yêu cầu của từng quốc gia. Khái niệm về quản trị rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu a) Khái niệm về quản trị rủi ro “Quản trị rủi ro là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) rủi ro, xây dựng và triển khai kế hoạch kiểm soát, tài trợ để khắc phục các hậu quả của rủi ro” (PGS.TS Trần Hùng, 2017, Giáo trình quản trị rủi ro, Trang 28).
Mục tiêu của quản trị rủi ro là tối ưu sử dụng các nguồn lực thông qua việc tối thiểu hóa những thiệt hại rủi ro gây ra và khai thác những cơ hội từ rủi ro. Quản trị rủi ro không chỉ đơn thuần là hoạt động thụ động, né tránh hay phòng tránh, mà còn là những hoạt động chủ động, tích cực của nhà quản trị trong công việc dự kiến những thiệt hại, tổn thất có thể xảy ra và tìm cách làm giảm nhẹ hậu quả của chúng. 8 b) Khái niệm về quản trị rủi ro trong quy trình xuất nhập khẩu Quản trị rủi ro trong quy trình giao hàng xuất nhập khẩu là quá trình nhận dạng, phân tích (bao gồm cả đo lường và đánh giá) và kiểm soát các nguy cơ và rủi ro có thể xảy ra trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu hàng hóa. Sau đó, dựa trên việc đánh giá này, kế hoạch kiểm soát và tài trợ được thiết lập và triển khai để đạt được mục tiêu của quản trị rủi ro là giảm thiểu tác động tiêu cực của các sự cố và tăng cường khả năng ứng phó khi chúng xảy ra.
Để quản trị rủi ro trong quy trình xuất nhập khẩu hiệu quả, các doanh nghiệp cần xác định và phân tích rủi ro tiềm ẩn, thiết lập các biện pháp kiểm soát rủi ro, áp dụng hợp đồng bảo hiểm khi cần thiết và duy trì một hệ thống theo dõi liên tục để điều chỉnh khi có sự thay đổi trong môi trường kinh doanh. Một số lý thuyết liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro trong quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu 2. Quy trình giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu a) Quy trình giao đối với hàng xuất khẩu: Với quy trình xuất khẩu, nhân viên công ty sẽ thực hiện đầy đủ các bước dưới đây để có thể xuất khẩu hàng hóa theo như yêu cầu của khách hàng: Sơ đồ 2.1: Quy trình giao hàng xuất khẩu Nguồn: Quản trị giao nhận vận tải quốc tế B1: Nắm bắt tình hình hàng hóa và phương tiện vận tải - Người giao nhận nắm tình hình chuẩn bị hàng hóa và chứng tử của chủ hàng như tình hình chuẩn bị các chứng từ hóa đơn thương mại (invoice), phiếu đóng gói (packing list), chứng nhận xuất xứ (nếu áp dụng cơ chế tự chứng nhận). - Người giao nhận nắm tình hình phương tiện vận tải hoặc tiến hành lưu cước, đăng ký chuyển phương tiện vận tải.
B2: Giao hàng hóa tại địa điểm quy định - Vận chuyển hàng hóa đến địa điểm được chỉ định. 9 - Khai báo và thông quan hàng hóa xuất khẩu. Nếu hàng hóa bị phân vào luồng đỏ cần phối hợp với cán bộ hải quan để kiểm tra thực tế hàng hóa; - Tiến hành kiểm nghiệm, giám định, kiểm dịch nếu cần và lấy giấy chứng nhận hay biên bản thích hợp; - Giao hàng xuất khẩu cho người vận chuyển thực tế. B3: Lập và bàn giao các chứng từ liên quan - Yêu cầu khách hàng cung cấp chi tiết thông tin làm vận đơn của lô hàng.
Thông tin thường bao gồm: Shipper, Consignee, Package number, Mark and No.(nếu có), Freight, yêu cầu đặc biệt khác nếu có,… - Gửi vận đơn HBL/HAWB nháp để khách hàng kiểm tra và gửi người vận tải/ co- loader hướng dẫn gửi hàng để làm MBL/MAWB. - Khi xác nhận phương tiện đã khởi hành, người giao nhận gửi HBL/HAWB bản chính và hóa đơn (debit note) cho khách hàng. - Gửi pre-alert cho đại lý ở nước ngoài.