LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều thời cơ, thuận lợi, đồng thời cũng mang lại nhiều thách thức cho các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Việc thực hiện các cam kết quốc tế buộc chúng ta phải từng bước cắt giảm thuế quan đã ảnh hưởng lớn đến nguồn thu từ thuế. Vấn đề giảm mạnh thuế quan, xoá bỏ hàng rào phi thuế quan nhưng vẫn đảm bảo nguồn thu từ thuế nhập khẩu là một khó khăn lớn đối với ngành Hải quan.
Vì vậy, công tác quản lý thuế trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế cần phải được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế đồng thời thể hiện được vai trò bảo hộ sản xuất trong nước, tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước. Thuế là nguồn thu chủ yếu của NSNN và là công cụ quan trọng điều tiết vĩ mô nền kinh tế, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, kích thích sản xuất phát triển. Do có vai trò rất quan trọng nên các quốc gia đều quan tâm đến thuế và đưa ra nhiều biện pháp để quản lý thuế nhằm đạt được hiệu quả cao hơn. Tuy nhiên, nhiệm vụ quản lý thuế xuất nhập khẩu (XNK) trong thời gian qua gặp rất nhiều khó khăn vướng mắc; đó là bên cạnh việc Việt Nam phải đảm bảo thực hiện tốt lộ trình cắt giảm thuế quan theo cam kết của WTO thì ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp (DN) đã tác động không nhỏ đến nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN).
Hiện nay, số thuế thu từ hoạt động XNK đóng góp một phần không nhỏ trong nguồn thu NSNN ở nước ta. Tuy nhiên, đây là một loại thuế khó quản lý và dễ gây thất thu cho NSNN. Bên cạnh đó, ý thức chấp hành nghĩa vụ về nộp thuế của đối tượng hoạt động XNK chưa cao nên luôn tìm cách gian lận, trốn thuế. Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, các chế độ chính sách về Quản lý thuế XNK trong thời gian qua cũng tồn tại rất nhiều bất cập.
Hệ thống Quản lý thuế XNK cùng với quy trình thủ tục Hải quan thường xuyên thay đổi. 2 Những năm qua, quản lý thuế XNK tại Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh đã đạt được những kết quả nhất định nhưng so với yêu cầu quản lý hiện đại vẫn còn nhiều bất cập. Tính đến hết năm 2017, tổng số thu thuế cho ngân sách của Chi cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh đạt 71,3 tỷ đồng, vượt 42,7% so với chỉ tiêu Bộ Tài chính giao, vượt 7% so với chỉ tiêu phấn đấu. Tổng số thu thuế cho ngân sách năm 2018 đạt được: 121,2 tỷ đồng, tăng 49% so với năm 2017; đạt 220% chỉ tiêu Bộ Tài chính giao (55 tỷ), đạt 173% chỉ tiêu UBND tỉnh Cao Bằng giao (70 tỷ), đạt 152% chỉ tiêu Tỉnh ủy giao (80 tỷ).
Một trong những khâu quan trọng là đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, hiện đại hóa hải quan, tạo điều kiện thuận lợi, thu hút các nhà đầu tư, các doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu hàng hóa. Đến nay, Chi cục đã ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin trong triển khai hải quan điện tử; hỗ trợ hướng dẫn doanh nghiệp đăng ký khai báo và làm thủ tục hải quan điện tử trên hệ thống thông quan tự động, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp, nhân dân đến làm thủ tục hồ sơ xuất nhập khẩu, xuất nhập cảnh. Tuy nhiên, công tác quản lý thuế XNK tại chi cục vẫn còn nhiều bất cập và tồn tại cần khắc phục như tình trạng trốn thuế trong hoạt động xuất nhập khẩu, tình trạng thất thu thuế, tình trạng nợ thuế của các doanh nghiệp. Để Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh có thể hoàn thành nhiệm vụ của mình, cần tiến hành nghiên cứu, rà soát, tìm ra những điểm mạnh cần phát huy, điểm yếu cần tiếp tục khắc phục.
Do đó đề tài: “Tăng cường quản lý thuế xuất nhập khẩu của Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng” đã được lựa chọn để nghiên cứu. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 1. Mục tiêu nghiên cứu Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và phân tích thực trạng, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường quản lý thuế XNK của chi cục hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng. Nhiệm vụ nghiên cứu Trên cơ sở mục tiêu tổng quát trên, luận văn có các nhiệm vụ cụ thể như sau: - Hệ thống hóa lý luận về công tác quản lý thuế XNK.
3 - Phân tích, đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế xuất nhập khẩu của Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh. - Đề xuất giải pháp và các kiến nghị nhằm tăng cường quản lý thuế XNK của Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh trong thời gian tới. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu 2. Đối tượng nghiên cứu Luận văn nghiên cứu lý luận và thực trạng vấn đề quản lý thuế XNK của chi cục hải quan cửa khẩu.
Phạm vi nghiên cứu Về nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu nội dung quản lý thuế xuất nhập khẩu của chi cục hải quan cửa khẩu. Về không gian: Luận văn tập trung nghiên cứu với chủ thể quản lý là Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng. Về thời gian: Luận văn nghiên cứu, đánh giá thực trạng quản lý thuế XNK của Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh từ năm 2014 đến năm 2018, đề xuất giải pháp và kiến nghị đến hết năm 2020 và tầm nhìn đến 2025. Phƣơng pháp nghiên cứu Việc nghiên cứu của đề tài dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng, trong đó vận dụng các quan điểm khách quan, toàn diện, lịch sử khi xem xét các vấn đề cụ thể; đồng thời dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước về những vấn đề liên quan.
Phương pháp thống kê: Số liệu thu thập từ báo cáo của các doanh nghiệp gửi lên Chi cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh cũng như số liệu mà chi cục lưu trữ. Phương pháp so sánh: So sánh và đối chiếu các số liệu, phân tích giữa các năm để thấy được những thành công, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế đối với việc thu thuế XNK trên địa bàn Trà Lĩnh. Phương pháp tổng hợp: Sàng lọc và đúc kết thực tiễn, từ đó đánh giá và đề ra giải pháp thực hiện tại Chi cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài - Ý nghĩa khoa học: hệ thống hoá lý luận cơ bản về thuế XNK, quản lý thuế XNK của chi cục hải quan cửa khẩu trong điều kiện hiện nay.
- Ý nghĩa thực tiễn: Phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý thuế XNK tại Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh để thấy được những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế của công tác quản lý thuế XNK tại Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh. Từ đó, đề xuất những giải pháp phù hợp nhằm tăng cường công tác quản lý thuế XNK tại Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh. Kết cấu của luận văn Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu theo 3 chương. Những vấn đề cơ bản của quản lý thuế xuất nhập khẩu tại chi cục hải quan cửa khẩu Chương 2: Thực trạng quản lý thuế XNK của Chi Cục Hải quan cửa khẩu Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thuế XNK của Chi cục Hải quan Cửa khẩu Trà Lĩnh tỉnh Cao Bằng 5 CHƯƠNG 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN CỦA QUẢN LÝ THUẾ XUẤT NHẬP KHẨU TẠI CHI CỤC HẢI QUAN CỬA KHẨU 1. Sự cần thiết của quản lý thuế xuất nhập khẩu tại chi cục hải quan cửa khẩu 1. Khái niệm và đặc điểm của quản lý thuế xuất nhập khẩu tại chi cục hải quan cửa khẩu 1. Khái niệm và đặc điểm của thuế xuất nhập khẩu Trong cấu trúc hệ thống thuế của một quốc gia thì thuế XNK có vai trò quan trọng và có ý nghĩa thiết thực, không chỉ tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước hàng năm mà quan trọng hơn, nó là công cụ hữu hiệu để nhà nước kiểm soát hoạt động XNK hàng hóa với nước ngoài, bảo hộ sản xuất trong nước và thực hiện các mục tiêu đối ngoại trong từng thời kỳ.
Mặc dù xuất hiện muộn hơn so với một số sắc thuế nội địa nhưng thuế XNK đã nhanh chóng khẳng định được vai trò, tác dụng to lớn của mình đối với nền kinh tế quốc gia, đặc biệt là vai trò kiểm soát hàng hoá nhập khẩu bên ngoài và bảo hộ sản xuất trong nước. Ngày nay, cho dù xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế đang từng bước ảnh hưởng đến thuế XNK theo hướng hạn chế vai trò của loại thuế này ở mỗi quốc gia song về cơ bản, thuế XNK vẫn là giải pháp quản lý vĩ mô có hiệu quả đối với nền kinh tế trong nước. Có nhiều cách hiểu khác nhau về thuế nhập khẩu, tuỳ thuộc vào từng góc độ tiếp cận. Xét về phương diện kinh tế, thuế XNK được quan niệm là khoản đóng góp bằng tiền của các tổ chức, cá nhân vào ngân sách nhà nước theo qui định của pháp luật, khi họ có hành vi XNK hàng hóa qua biên giới của một nước (Nguyễn Thị Bất, 2017; Nguyễn Thị Liên và Nguyễn Văn Hiệu, 2005).
Với cách tiếp cận này, thuế XNK được quan niệm như là một quan hệ phân phối các nguồn lực tài chính phát sinh giữa các chủ thể là các tổ chức, cá nhân nộp thuế với người thu thuế là nhà nước. Mặt khác, thuế XNK còn là đòn bẩy kinh tế hay là biện pháp kinh tế để nhà nước 6 điều tiết trực tiếp đối với quá trình sản xuất, tiêu dùng trong phạm vi của mỗi quốc gia và chi phối một cách gián tiếp đối với hoạt động kinh tế trên phạm vi toàn cầu. Xét về phương diện pháp lý, thuế XNK có thể hình dung như là quan hệ pháp luật phát sinh giữa nhà nước (người thu thuế) với tổ chức cá nhân (người nộp thuế), về việc tạo lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý cho các bên trong quá trình hình thành thu thuế XNK (Phạm Xuân Hòa, 2014).