Chương 1, Phụ lục chuyên đề K của Công ước quốc tế về hài hoà và đơn giản hóa thủ tục hải quan (Công ước Kyoto sửa đổi và bổ sung năm 1999), quy định về xuất xứ hàng hóa như sau: “Xuất xứ hàng hóa là nước tại đó hàng hoá được chế biến hoặc sản xuất, phù hợp với tiêu chuẩn được áp dụng trong biểu thuế hải quan, giới hạn về số lượng hoặc các biện pháp khác liên quan đến thương mại”. Đối với quy định của Việt Nam, căn cứ Khoản 14 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005 của Việt Nam có định nghĩa về xuất xứ hàng hóa như sau: “Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá đó”. Còn theo Khoản 1 Điều 3 Nghị định 31/2018 NĐ-CP định nghĩa về xuất xứ hàng hóa như sau: “Xuất xứ hàng hóa là nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hoặc nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó”. Từ các định nghĩa về xuất xứ hàng hóa qua các Công ước quốc tế và Luật, Nghị định thì thấy rằng mặc dù sử dụng ngôn từ khác nhau nhưng cùng biểu thị một cách diễn đạt về nghĩa của xuất xứ hàng hóa là giống nhau.
Ta thấy để một quốc gia hay vùng lãnh thổ được công nhận xuất xứ hàng hóa thì phải thỏa mãn một trong hai trường hợp: “Là nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa” hoặc “nơi thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hóa trong trường hợp có nhiều nước, nhóm nước, hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hóa đó” hay hàng hóa đó 6 “đáp ứng một số tiêu chuẩn nào đó phù hợp với các thoả thuận thương mại giữa các nước, khối kinh tế, khu vực hoặc các vùng lãnh thổ”. Trong khi đó, “nơi sản xuất” được hiểu nôm na là chỉ khu vực sản xuất, chế biến ra sản phẩm đó nhưng chỉ dừng lại ở những công đoạn, quy trình để tạo ra sản phẩm mà chưa hẳn là nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hóa hay thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng. Xét về bản chất, hiểu đơn giản về “nơi sản xuất” sẽ cung cấp thông tin cho người tiêu dùng về nơi sản xuất ra hàng hóa và chúng sẽ được in trên bao bì sản phẩm. Tuy nhiên nơi sản xuất hàng hóa được in trên bao bì sẽ không có giá trị pháp lý và chỉ với mục đích thương mại nhằm thu hút người tiêu dùng.
Đối với “xuất xứ” thì sẽ phức tạp hơn vì để đủ cơ sở được hưởng những ưu đãi thuế quan thì việc đáp ứng đầy đủ những giấy tờ chứng minh về xuất xứ hàng hóa là rất quan trọng. Ngoài ra, khác hẳn với “nơi sản xuất” thì “xuất xứ hàng hóa” bắt buộc phải ghi trên nhãn hàng hóa theo Khoản 1 Điều 10 Nghị định 43/2017/ NĐ-CP. Tóm lại, cách phân biệt dễ dàng nhất giữa hai khái niệm trên: xuất xứ là thuật ngữ pháp lý trong khi đó nơi sản xuất là từ ngữ thông dụng chỉ khu vực sản xuất ra hàng hóa. Để hàng hóa xuất nhập khẩu được hưởng ưu đãi thuế quan từ các Hiệp định thương mại tự do thì cần phải nắm vững các quy tắc về xuất xứ hàng hóa.
Vậy quy tắc xuất xứ hàng hóa (Rules of Origin – ROO) là gì? Theo WTO có định nghĩa về quy tắc xuất xứ như sau: “Quy tắc xuất xứ là tiêu chí cần thiết để xác định nguồn gốc quốc gia của một sản phẩm”. Các Hiệp định thương mại tự do khác nhau thì sẽ có quy định về nguồn gốc xuất xứ khác nhau, nhìn chung thì quy tắc xuất xứ hàng hóa là những quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa có thỏa thuận ưu đãi về thuế quan hoặc ưu đãi phi thuế quan. Việc cắt giảm thuế quan đối với những mặt hàng xuất xứ từ các nước thành viên trong khu vực thương mại tự do được cho là kỳ vọng trong việc thúc đẩy tự do hóa thương mại giữa các quốc gia với nhau. Tuy nhiên, việc được cắt giảm thuế quan còn phải tùy vào khả năng đáp ứng các quy tắc xuất xứ của hàng hóa khi xuất nhập khẩu vào một nước, cho thấy rằng việc tự do hóa thương mại không diễn ra tự động mà phải có điều kiện.
Theo WTO có vai trò của quy tắc xuất xứ được thể hiện như sau: - Để thực hiện các biện pháp và công cụ của chính sách thương mại như thuế chống bán phá giá và các biện pháp tự vệ; 7 - Để xác định liệu các sản phẩm nhập khẩu có được hưởng ưu đãi hoặc đối xử tối huệ quốc (MFN) hay không; - Cho mục đích thống kê thương mại; - Đối với việc áp dụng các yêu cầu về ghi nhãn và đánh dấu; và - Đối với hoạt động mua sắm của Chính phủ 1.2 Các loại quy tắc xuất xứ Nếu xét theo mục đích áp dụng và thị trường nhập khẩu, có hai quy tắc xuất xứ chính là quy tắc xuất xứ ưu đãi ((Preferential Rules of Origin) và quy tắc xuất xứ không ưu đãi (Non-preferential Rules of Origin). Theo Điều 3 Khoản 2, Khoản 3 của Nghị định số 31/2018/NĐ-CP Quy định về xuất xứ hàng hóa xuất khẩu, xuất xứ hàng hóa nhập khẩu có giải thích chi tiết lần lượt như sau: “Quy tắc xuất xứ ưu đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa có thoả thuận ưu đãi về thuế quan và ưu đãi về phi thuế quan”. “Quy tắc xuất xứ không ưu đãi là các quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hóa ngoài quy định tại khoản 2 Điều này và trong các trường hợp áp dụng các biện pháp thương mại không ưu đãi về đối xử tối huệ quốc, chống bán phá giá, chống trợ cấp, tự vệ, hạn chế số lượng hay hạn ngạch thuế quan, mua sắm chính phủ và thống kê thương mại” Như vậy, “quy tắc xuất xứ ưu đãi” là tập hợp các tiêu chí được thiết kế nhằm đảm bảo hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan FTA nếu tuân thủ các quy định về xuất xứ áp dụng với hàng hóa trong FTA đó. Hàng hóa đáp ứng quy tắc xuất xứ ưu đãi sẽ được cấp C/O ưu đãi hoặc Tự chứng nhận xuất xứ ưu đãi - là căn cứ pháp lý quan trọng nhất để được hưởng ưu đãi thuế quan FTA, từ đó sẽ kích thích việc tìm kiếm và sản xuất nguyên phụ liệu, hàng hóa trong phạm vi FTA.
Theo hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO: “Quy tắc xuất xứ ưu đãi là các luật, quy định và quyết định hành chính mà các bên áp dụng để xác định hàng hóa có đủ tiêu chuẩn để được hưởng đối xử theo chế độ thương mại dành ưu đãi lẫn nhau hay một chiều”. Như vậy trong “quy tắc xuất xứ ưu đãi” có ba loại, bao gồm: - Ưu đãi đơn phương (theo GSP): Là ưu đãi thuế quan mà các nền kinh tế phát triển (Hoa Kỳ, Nhật Bản, EU,.) dành cho các nền kinh tế đang phát triển hoặc kém phát triển (Việt Nam, Thái Lan, Lào, Cam-pu-chia, Băng-lađét,…). Đây là ưu đãi một 8 chiều và không phải là kết quả của đàm phán, do vậy khi các nền kinh tế phát triển (A) đánh giá một nền kinh tế đang hoặc kém phát triển (B) đã trưởng thành tương đối trong một số ngành hàng cụ thể, A có thể sẽ rút lại các ưu đãi thuế quan đã dành cho (B). - Ưu đãi song phương (theo FTA song phương): Là kết quả của quá trình đàm phán các FTA hoặc các thỏa thuận thương mại song phương.
Việt Nam hiện đang có các FTA song phương với Nhật Bản, Hàn Quốc, Chi-lê. Nếu coi ASEAN hoặc EAEU – Liên minh Kinh tế Á Âu là một thị trường thống nhất, thì cũng có thể coi ACFTA là Hiệp định song phương giữa 1 bên là ASEAN và 1 bên là Trung Quốc. FTA giữa Việt Nam và EU cũng có thể coi là 1 FTA song phương giữa 1 bên là Việt Nam và một bên là thị trường chung thống nhất của thành viên EU; - Ưu đãi đa phương (theo FTA đa phương): Là kết quả của quá trình đàm phán các FTA hoặc các thỏa thuận thương mại bao gồm nhiều hơn 2 bên thành viên. TPP hoặc RCEP là những FTA đa phương với nhiều bên thành viên tham gia đến từ các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau.
Từ định nghĩa về “quy tắc xuất xứ không ưu đãi” ở trên có thể hiểu một cách đơn giản là quy tắc xuất xứ này không được hưởng các ưu đãi về thuế quan. Cụ thể là các quy định về xuất xứ trong các trường hợp áp dụng các biện pháp thương mại không ưu đãi như đối xử tối huệ quốc (MFN), áp dụng thuế chống bán phá giá, áp dụng thuế chống trợ cấp, áp dụng thuế tự vệ, áp dụng hạn chế số lượng hay hạn ngạch thuế quan, mua sắm chính phủ và thống kê thương mại.3 Các tiêu chí xuất xứ Xét theo các tiêu chí thì Quy tắc xuất xứ có các tiêu chí như sau: - “Xuất xứ thuần túy” được hiểu là hàng hóa thu được toàn bộ trong phạm vi lãnh thổ của bên thành viên xuất khẩu hoặc được sản xuất hoàn toàn từ nguyên liệu có xuất xứ thuần túy của bên thành viên xuất khẩu đó. Hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toàn bộ tại nước xuất xứ (Wholly Obtained). Cụ thể là các sản phẩm được trồng trọt, nuôi dưỡng, đánh bắt, khai thác, thu hoạch, hoàn toàn từ nước xuất xứ hay được sản xuất hoàn toàn từ các sản phẩm này được coi là hàng hóa có xuất xứ thuẩn túy.
Nhìn chung, tiêu chí xuất xứ thuần túy liên quan đến các loại hàng hóa nông, lâm, thủy, hải sản. 9 - “Xuất xứ không thuần túy” được sản xuất một phần hoặc toàn bộ tại nước xuất xứ, từ một vài hay toàn bộ những nguyên vật liệu thành phần, bộ phận được nhập khẩu hay không có xuất xứ với điều kiện những nguyên vật liệu, thành phần hay bộ phận đó đã trải qua quá trình gia công chế biến cơ bản cuối cùng làm thay đổi cơ bản hàng hóa tại nước xuất xứ.