Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÒNG NGỪA TÌNH HÌNH TỘI PHẠM 1. Khái niệm, ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội phạm 1. Khái niệm phòng ngừa tình hình tội phạm Theo Từ điển tiếng Việt, phòng ngừa là “phòng không cho điều bất lợi, tai hại xảy ra” [53, tr. THTP được hiểu là “toàn bộ tình hình, cơ cấu, động thái, diễn biến của các loại tội phạm hay từng loại tội phạm trong một giai đoạn nhất định xảy ra trong một lĩnh vực, một địa phương, trong phạm vi quốc gia, khu vực hoặc toàn thế giới trong một khoảng thời gian nhất định”.
Từ những nhận thức trên, có thể hiểu về PNTHTP một cách khái quát như sau: Phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động phòng trước, không để cho trạng thái, xu thế phát triển của tội phạm diễn biến theo chiều hướng tiêu cực hơn trên một địa bàn cụ thể và hướng tới triệt tiêu hành vi phạm tội. Ở góc độ cụ thể hơn, khái niệm “phòng ngừa tình hình tội phạm” đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học và được hiểu theo những cách khác nhau, điển hình như: Theo quan điểm của GS.TS Võ Khánh Vinh, “Phòng ngừa tình hình tội phạm là hệ thống nhiều mức độ và biện pháp mang tính chất Nhà nước, xã hội và Nhà nước – xã hội nhằm khắc phục các nguyên nhân và điều kiện của tội phạm hoặc làm vô hiệu hóa (làm yếu; hạn chế) chúng và bằng cách đó làm giảm và dần dần loại bỏ tình hình tội phạm” [57, tr. Theo Giáo trình Tội phạm học của trường Đại học Luật Hà Nội, “Phòng ngừa tình hình tội phạm là việc áp dụng một cách tổng thể các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, pháp luật… do các cơ quan, các tổ chức và công dân tiến hành dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ hoặc vô hiệu hóa các nguyên nhân, điều kiện phạm tội; không để cho tội phạm xảy ra; làm giảm tội phạm và tiến tới loại trừ hoàn toàn tình hình tội phạm ra khỏi đời sống xã hội” [51, tr. Qua nghiên cứu, học viên nhận thấy, về cơ bản, các nhà nghiên cứu đều thống nhất chỉ ra những vấn đề cốt lõi của khái niệm PNTHTP, đó là: 6 Thứ nhất, PNTHTP là nhiệm vụ chung của toàn xã hội nên cần có sự tham gia đóng góp tích cực của tất cả các cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân.
Phải phát huy được sức mạnh tổng hợp của quần chúng lao động dưới sự lãnh đạo, chỉ huy thống nhất của các cấp ủy Đảng và chính quyền. Thứ hai, PNTHTP là việc sử dụng tổng thể các biện pháp chính trị - tư tưởng, kinh tế - xã hội, văn hóa - giáo dục, pháp luật, quản lý nhà nước… để kiểm soát và tiến tới loại trừ THTP ra khỏi đời sống xã hội. Thứ ba, PNTHTP mang tính hệ thống, đồng bộ nên đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa công tác phòng ngừa và đấu tranh, trong đó phòng ngừa là chính, lấy kết quả phòng ngừa để chủ động tấn công tội phạm. Do đó, phải tiến hành đồng thời những hoạt động phòng ngừa chung (phòng ngừa xã hội) và phòng ngừa riêng (phòng ngừa nghiệp vụ).
Ngoài ra, để có thể nhận thức một cách đúng đắn, toàn diện những vấn đề về PNTHTP, học viên cho rằng cần nhận thức được nguyên nhân và điều kiện của THTP bởi mọi hiện tượng đều có nguyên nhân xuất hiện, tồn tại, tiêu vong và bản thân THTP cũng được hiểu là “một hiện tượng xã hội, pháp lý tiêu cực. Theo đó, lý luận khoa học Tội phạm học đã chỉ ra rằng: “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm được hiểu là hệ thống các hiện tượng xã hội tiêu cực trong hình thái kinh tế - xã hội tương ứng quyết định sự ra đời của tình hình tội phạm như là hậu quả của mình” [51, tr. Về mối quan hệ giữa PNTHTP và nguyên nhân, điều kiện của THTP, TS. Đào Trí Úc đã viết: “Ở mức độ toàn xã hội, tội phạm phải được coi là một bộ phận, một yếu tố được đặt trong mối liên hệ mật thiết với các quá trình và các hiện tượng khác, trong đó có các hiện tượng tích cực và cả tiêu cực… Tội phạm không chỉ xuất phát từ những quá trình sai trái, tiêu cực mà còn từ những quá trình khác không thể coi là tiêu cực… Các quá trình xã hội là nguyên nhân của tội phạm và là yếu tố quyết định tính chất, trạng thái, biến động của tội phạm… Nhìn nhận tội phạm trong một tổng thể xã hội rộng hẹp khác nhau như vậy cho phép chúng ta có sự lý giải khoa học và có cơ sở thực tiễn… để xây dựng những biện pháp đấu tranh đồng bộ” [42, tr.
Như vậy, chúng ta có thể dựa trên mối quan hệ biến chứng 7 giữa nguyên nhân, điều kiện của THTP với THTP để nhận thức rằng: Để PNTHTP nhất thiết phải ngăn chặn và loại trừ tất cả các yếu tố là nguyên nhân, điều kiện của THTP thuộc về tất cả các mặt như: Kinh tế, xã hội, văn hóa, tư tưởng… Với những nhận thức về khái niệm PNTHTP như đã nêu trên, học viên cho rằng dưới góc độ khoa học có thể hiểu về PNTHTP như sau: Phòng ngừa tình hình tội phạm là hoạt động của các cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng tổng hợp các biện pháp nhà nước và xã hội tác động vào nguyên nhân, điều kiện làm phát sinh tình hình tội phạm xảy ra ở một địa bàn cụ thể trong khoảng thời gian nhất định, đồng thời tiến hành những biện pháp kịp thời phát hiện, xử lý tội phạm theo thẩm quyền nhằm từng bước làm giảm và tiến tới loại trừ tội phạm ra khỏi đời sống xã hội. Với khái niệm này, nội dung của PNTHTP đã được xác định cụ thể, bao gồm: Các hoạt động phòng ngừa chung (phòng ngừa xã hội) và các hoạt động phòng ngừa riêng (phòng ngừa nghiệp vụ). Trong đó, phòng ngừa chung là hệ thống các biện pháp của Nhà nước và xã hội sử dụng tổng hợp các biện pháp kinh tế, chính trị, tư tưởng, văn hóa, giáo dục, pháp luật… nhằm hạn chế, loại trừ nguyên nhân, điều kiện của tình hình các tội phạm. Phòng ngừa riêng là hoạt động của các cơ quan chức năng sử dụng đồng bộ các biện pháp nghiệp vụ để khắc phục những nguyên nhân, điều kiện cụ thể dẫn đến việc phạm tội, phát hiện, ngăn chặn, xử lý kịp thời các hành vi phạm tội, quản lý, giáo dục đối tượng phạm tội để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Đồng thời, khái niệm cũng đã chỉ rõ chủ thể tham gia vào hoạt động PNTHTP là tất cả các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, tập thể người lao động và mọi công dân. Qua nghiên cứu các tư liệu khoa học liên quan đến vấn đề PNTHTP, học viên nhận thấy có một số quan điểm riêng, khác biệt của người nghiên cứu so với tổng thể chung các công trình khoa học khác, điển hình như: - Quan điểm cho rằng không tồn tại khái niệm “phòng ngừa tình hình tội phạm” Với bản chất là hiện tượng xã hội, sự xuất hiện, vận động và phát triển của THTP không nằm các quy luật khách quan, đặc biệt là quy luật nhân - quả. Lý luận khoa học Tội phạm học về THTP và nguyên nhân, điều kiện của THTP đã chỉ ra rằng: 8 THTP là hiện tượng xã hội có nguồn gốc từ các quan hệ và điều kiện xã hội, phát triển theo những sự thay đổi của các điều kiện đó. Do đó, để hạn chế và dần triệt tiêu THTP cần thiết phải ngăn chặn và loại trừ các nguyên nhân, điều kiện của THTP đó.
Sự phù hợp của mối liên hệ nêu trên - mối liên hệ giữa hoạt động phòng ngừa và nguyên nhân, điều kiện của THTP - với các quy luật khách quan không cho phép chúng ta phủ nhận sự tồn tại của khái niệm “phòng ngừa tình hình tội phạm” trong khoa học Tội phạm học. - Quan điểm đồng nhất hai khái niệm “phòng ngừa tình hình tội phạm” và “phòng ngừa tội phạm” Qua nghiên cứu một số bài viết, công trình khoa học, học viên nhận thấy khái niệm “phòng ngừa tội phạm” được sử dụng với nghĩa tương đồng với khái niệm “phòng ngừa tình hình tội phạm” như đã phân tích nêu trên. Học viên cho rằng không thể đồng nhất hai khái niệm “phòng ngừa tình hình tội phạm” và “phòng ngừa tội phạm” bởi những lý do sau đây: Trước hết, có thể dễ dàng nhận thấy cả hai thuật ngữ “phòng ngừa tình hình tội phạm” và “phòng ngừa tội phạm” đều sử dụng từ “phòng ngừa” kết hợp với hai thuật ngữ khác nhau là “tội phạm” và “tình hình tội phạm”. Trong khoa học Tội phạm học, “tội phạm” và “tình hình tội phạm” không phải là hai khái niệm có nội hàm giống nhau.
Tội phạm là bản thân hiện tượng còn THTP là trạng thái và xu thế vận động của hiện tượng đó. Tội phạm là một hành vi cụ thể xâm hại một hoặc nhiều quan hệ xã hội được Luật hình sự bảo vệ còn THTP là tổng thể các hiện tượng tiêu cực nguy hiểm nhất của xã hội, là hiện tượng xã hội phản ánh đầy đủ những vấn đề cơ bản nhất liên quan đến toàn bộ tội phạm xảy ra trong xã hội đó ở phạm vi không gian và thời gian xác định. Nói cách khác, trong Tội phạm học, tội phạm và THTP có mối quan hệ với nhau, đó là “mối quan hệ tuân theo quy luật giữa toàn thể và bộ phận, cái chung và cái đơn nhất, giữa hệ thống và bộ phận” [51, tr. Do đó, không thể đồng nhất tội phạm và THTP và cũng không thể đồng nhất khái niệm về “phòng ngừa tình hình tội phạm” và “phòng ngừa tội phạm”.
Như vậy, trên cơ sở thống nhất khái niệm về PNTHTP như đã nêu trên, cho 9 phép học viên đưa ra quan điểm phản biện đối với những ý kiến khác nhau liên quan đến thuật ngữ “phòng ngừa tình hình tội phạm” và các thuật ngữ khác có liên quan. Mặc dù có thể ý kiến phản biện chưa thật sự sâu sắc, tuy nhiên cũng đã cho thấy sự hiểu biết nhất định của học viên về bản chất của hoạt động PNTHTP. Ý nghĩa của phòng ngừa tình hình tội phạm Về mặt lý luận, PNTHTP là một trong những nội dung quan trọng, chiếm vị trí đặc biệt của lý luận về Tội phạm học, vừa là mục tiêu, là chức năng cơ bản của Tội phạm học. Bởi, “suy cho cùng thì mục đích của khoa học về Tội phạm học chính là để PNTHTP, để cho tội phạm không xảy ra, không gây ra các hậu quả nguy hiểm cho xã hội” [55, tr.