chương 1, nhóm tác giả đã giới thiệu những thông tin quan trọng sau: lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cúu, đua ra câu hỏi nghiên cúu, đối tượng và phạm VI nghiên cứu , cũng như giới thiệu phương pháp nghiên cứu sẽ sử dụng bao gồm định tính và định lương Sau đó, nhóm tác giả đã tóm luợc bối cảnh thực tiễn, lý thuyết trong đề tài nghiên cứu "Sự ket hợp giữa thuyết Hành VI có ke hoạch, Kích hoạt chuẩn mục, Thái độ-hành vi-bối cảnh nham nghiên cứu ý đinh mua xe máy điện của người tiêu dùng. Bối cảnh nghiên cửu 1. Boi cảnh thực tiên Hiện nay tình hạng ô nhiễm ở thành phố Hồ Chí Minh đang ngày càng gia tăng, có những thời diêm, chỉ số ô nhiễm môi hường tại thành phố Hồ Chí Minh đều cao hon nhiều so VÓI mức cho phép. Trong đó, tình hạng ô nhiễm nước và ô nhiễm không khí là đáng quan ngại nhát.
Sụ quan tàm đen các sản phàm bảo vệ môi tiưòng của nhiều khách hàng đang trở thành động lực đẻ các doanh nghiệp phát hiển các sản phàm xanh, bên cạnh đó có một số đánh giá về môi trường ở Việt Nam và sản phàm xe điện. Thành phố Hồ Chi Minh là một trong những nơi có số lượng lớn người tham gia giao thông. Đặc biệt VÓI con số 8 triệu phương tiện các loại lưu thông mỗi ngày khiến cho ô nhiễm môi hường và không khí đang trở thành một van đề đáng lo ngại (Văn Duân, 2020) .Một ket quả đo lường về van đề ô nhiễm mỏi hường của tô chức công nghệ IQAir, Việt Nam xep hạng 30 về mức độ ô nhiễm không khí gây thiệt hại lẻn đen 14 tỷ USD mỗi năm (IQAir, 2022). 2 Theo Hải (2020) từ những tác động tích cực và tiêu cực của đại dịch Covid-19 đến môi trường, tiước đại dich Covid-19, ô nhiễm môi hường không kill là mối lo ngại hàng đầu tại địa bàn thành phố chủ yeu do khói bụi từ các hoạt động giao thông khoảng 70%-80%.
Hậu quả của ô nhiễm môi trường không kill là tình hạng nhiều người bl mac căn bệnh viêm màng ket, bệnh tun, ung thu phôi, nhiễm hừng đường hô hap cap tính ở trẻ em,. không chỉ dừng lại ỏ đó mà còn ảnh hưởng ham trọng đen những sinh vật sống ỏ sông, hồ, ao,. Sau đại dịch Covid-19, chat lượng môi hường dần được cải thiện như giảm tluẻu tiếng ồn, khói bụi, giảm ô nhiễm không klú đáng kẻ, giảm biến đôi klú hậu. Trong thời gian thực hiện cách ly xã hội cho thấy, sự thay đôi các hoạt động sản xuất, các hoạt động công nghiệp hạn che lại kẻ hr kill con người giảm bót di chuyên không can tliiet do dich covid-19 đã góp phần vào sự sụt giảm lượng kill cacbon dioxide, methane và lượng kill thải cacbon monoxide.
Đứng hước tình hình ỏ nhiễm môi trường ngày một nghiêm họng ỏ tại Việt Nam nói chung và nước ngoài nói riêng, các nước trên the giói đã đưa ra một số giải pháp như khuyến khích tat cả người dàn sử dụng các loại sản phàm xanh, sử dụng các phương tiện công cộng, xe đạp, giảm tluẻu xe máy. Thèm một phần sức vào việc bảo vệ môi hường tlù các doanh nghiệp lớn trong ngành sản xuất xe như Vinfast, Son Hà, Piaggio. đã phát triển các loại xe điện như xe đạp điện, xe máy điện, xe ô tô điện, góp phần nào vào việc đây mạnh xu hướng tiêu dùng xanh đen VỚI thị trường tiêu dùng. Theo Carlier (2022), trang Statista, klu thị trường được mở rộng tại Đức, trong khoảng thời gian từ tháng 5 năm 2016 đen tháng 3 năm 2021 thì sự quan tàm của người tiêu dùng đối VÓI xe điện (EV) đã tăng 25%.
Ớ Anh, có khoảng 69% người lái xe điện sống ở khu vực thành tlụ hoặc ngoại ô và ở các vùng nông thôn biệt lập chiếm khoảng 5%. Tại Hoa Kỳ, khoảng 22% khách hàng sống ở đô thị có ý định mua xe điện. Theo trang thống kẻ Virta (2023), năm 2020 có doanh số bán xe điện toàn cầu tăng 43% so VÓI năm 2019 và tlụ phần ngành ô tô điện toàn cầu tăng lẻn mức kỉ lục là 4,6% vào năm 2020. Doanh số bán xe điện của năm 2021 tăng gap đôi so VÓI năm 2020.
Nhu cầu mua phương tiện giao thông bang điện đã tăng đáng kẻ trong những năm gần đây, tuy chỉ có một phần nhỏ lượng phương tiện mới được bán toàn cầu. Theo bản tin 3 Bộ Tài nguyên và MÔI trường (2020), Hiệp hội Các nhà sản xuất xe máy Việt Nam (VAMM) (2018) đã làm cuộc khảo sát vào năm 2017 cho thay tông lượng xe máy điện và xe đạp điện đã đuợc bán ỏ Việt Nam đạt gần 500.000 xe, tăng 30% so VÓI năm 2016 và doanh sổ tăng 40% vào năm 2018. Theo Hải Minh (2023) dụa vào báo cáo của Motocycle Data (2020) cho thay thị phần xe máy điện tại Việt Nam đã tăng từ 5,4% năm 2019 lẻn 10% vào năm 2021. VÓI số liệu của Cục Đăng kiêm Việt Nam về thị phần ô tô điện cho thay dù chỉ đạt hon 1 % nhưng ngành ô tô điện vẫn đang có xu hướng tăng.
Sự quan tâm của người tiêu dùng đen xe điện và việc bảo vệ môi trường đang tăng lẻn, mặc dù năm 2020 chỉ có 900 xe nhưng đen năm 2021 đã có 1000 chiếc được bán ra. Ở năm 2022 vừa qua, riêng hai mẫu xe thuần điện của Vmfast là VFE34 và VF8 đã đạt doanh sổ hon 7. Lượng lớn các bài báo nghiên cứu có liên quan đen ý định người tiêu dùng mua ô tô điện và ô tô hybrid. Tuy nhiên, vẫn còn khá ít nghiên cứu liên quan đen ý định mua xe máy điện.
Mục đích của nghiên cứu này là phát triển mô hình nghiên cứu áp dụng cho nghiên cứu ý định mua xe máy điện. Nghiên cứu này xác định các yeu tố quyết định đen ý định mua xe máy điện từ co sở lý thuyết. Boi cảnh lỷ thuyết Xe điện đuợc COI là sản phàm mới VÓI công nghệ xanh giúp giảm thiêu các phát sinh do kill thải gây hại cho môi trường sống, do đó hành VI mua hàng của người tiêu dùng có tính đôi mới. Một số nhà nghiên cứu đã áp dụng các lý thuyết và mô hình về hành VI chap nhận công nghệ như Thuyết hành VI dụ định (TPB), mô hình chap nhận công nghệ (TAM) đẻ hiẻu ý định mua của người tiêu dùng đối VÓI xe điện và đẻ dự đoán được sự chap nhận hay từ chối của thi trường tiêu dùng.
Một trong những lý thuyết pho biến đuợc sử dụng đẻ nghiên cứu việc áp dụng EV là lý thuyết hành VI có ke hoạch (TPB) của Ajzen (1991), đây cũng chính là phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (TRA) của Fishbein (1977). Lý thuyết này giải thích rang chuẩn chủ quan, thái độ đối VÓI hành VI và nhận thúc kiêm soát hành VI có thẻ ảnh hưởng tiực tiếp đen ý định và ý định ảnh hưởng đen hành VI. 4 Hành VI và ý định mua của người tiêu dùng xanh được nghiên cứu sử dụng tliuyết TPB thường xuyên hơn. Chen và cộng sự (2016) đã sử dụng thuyết TPB đẻ nghiên cứu ý định hành VI tiết kiệm năng lượng và giảm tluẻu lượng carbon được thải ra môi trường của người dân ở Đài Loan.
Tương tự the, Tanwir và Hamzah (2020) cũng sử dụng thuyết TPB kill ket hợp VỚI kiến thức môi tiường nham nghiên cứu ý định mua xe điện Hybnd (xe lai điện) ở Malaysia. Cùng năm đó, Al Mamun và cộng sự (2020) cũng cho thay mô hình sử dụng các biến Thái độ, Chuân chủ quan và Nhận thức hành VI từ thuyết TPB có khả năng giải thích cao cho ý định sử dụng xe scooters điện (xe điện mini) ở Malaysia. Ngoài lý thuyết TPB, các nhà nghiên cứu cũng sử dụng các lý thuyết về tâm lý nhận thức cá nhân của khách hàng trong việc mua sản phàm xanh. Trong đó, lý thuyết đuợc sử dụng nhiều là thuyết Kích hoạt tiêu chuẩn (NAT), đuợc nhiều nhà nghiên cứu dùng đẻ dụ đoán ý định mua sản phàm xanh và hành VI xanh qua nhận thúc và mem tin của người dùng thúc đây chuấn mực cá nhân của họ.
Cụ thẻ, lý thuyết này sẽ giúp chỉ ra thái độ tích cực cùng một định hướng mạnh mẽ đối VỚI mem tin ủng hộ môi trường. Mặt khác, Asadi và cộng sự (2021) đã phát triển mô hình nghiên cứu sử dụng thuyết Kích hoạt tiêu chuẩn (NAT) và lý thuyết về Hành VI dụ định nghiên cứu ý định mua xe điện ở Malaysia. Ket quả nghiên cứu cho thay giá ti'Ị cảm nhận, thái độ, hiệu quả cảm nhận của người tiêu dùng, chuẩn mục chủ quan và nhận thúc về hậu quả đều ảnh hưởng đáng kẻ đen ý định mua xe điện của người tiêu dùng. Giống như the, Javid và cộng sự (2021) cũng sử dụng thuyết kích hoạt tiêu chuẩn (NAT) đẻ nghiên cứu về tác động của nhận thúc hậu quả, trách nhiệm lẻn chuẩn mục cá nhân cũng như dùng đẻ giải thích hành VI ủng hộ xã hội và ủng hộ mỏi hường đẻ từ đó dự đoán ý muốn sử dụng xe điện của người dùng tại Parkistan.
Theo Bigliardi và cộng sự (2020), Hành VI ủng hộ môi trường được xem tốt nhất là sự ket hợp giữa động cơ cá nhân và động cơ ủng hộ từ xã hội. Các yeu tố thái độ, nhận thức hành VI từ lý thuyết hành VI dự định (TPB) và chuấn mực cá nhân từ lý thuyết kích hoạt chuấn mực (NAT) đuợc xem là những động cơ cá nhân. Còn chuấn chủ 5 quan bị ảnh hưởng bởi động cơ từ xã hội và là nhân tố bị ảnh hưởng mạnh mẽ nhất bởi các yen tố khách quan như luật và các quy định của chính phủ, trợ cap và các chính sách ưu đãi. Mặc dù các nghiên cứu sử dung lý thuyết hành VI dự định (TPB) hoặc kích hoạt chuân mực (NAT) có khả năng giải thích cao các mối quan hệ giữa yeu tố tàm lý và ý định hành VI, một số nghiên cứu liên quan đen sản phàm xanh cho rang yeu tố thái độ đối VÓI sản phàm xanh có khả năng bị thay đôi theo ngũ cảnh.
Quan diêm này đuợc thẻ hiện rõ trong lý thuyết Thái độ-Hành Vi-Ngữ cảnh (ABC) đuợc đề xuất bởi Guagnano và công sự (1995). Lý thuyết này cho thay hành VI của người tiêu dùng (Behavior) có thẻ được COI là ket quả có mối liên hệ qua lại giữa thái độ (Attitude) và các yeu tố bối cảnh (Context). Ertz và cộng sự (2016) cùng VÓI Goh và Balaji (2016) cho rang lý thuyết A-B-C sẽ giúp hiểu được hành VI môi trường. Cụ thẻ hon, Y.