đặt vấn đề trao đổi mua hàng là những người chuyên nghiệp. Yếu tố cảm xúc trong quá trình ra quyết định thường không đóng vai trò quan trọng. Do đó, quan hệ giữa bên cung và bên cầu rất chặt chẽ và lâu dài. - Quy trình bán hàng của các doanh nghiệp B2B ngành nhựa thường lâu hơn: Để đi đến quyết định mua bán cuối cùng, bên mua sẽ thường nghiên cứu rất kỹ, sau đó đi đến các khâu liên quan về giá, hợp đồng mua bán, giao hàng… do đó, quy trình sẽ chặt chẽ và lâu hơn.
- Các doanh nghiệp ngành Nhựa theo mô hình B2B hiện nay cắt giảm nhiều khâu trung gian không cần thiết, nhờ vào đó, hàng hóa đến tay các đại lý bán lẻ, khách hàng nhanh hơn. Cơ hội và thách thức cho các doanh nghiệp ngành Nhựa trong giai đoạn 2015 - 2020 1. Cơ hội: - Thị trường rộng lớn và nhiều ưu đãi xuất nhập khẩu Ngành nhựa được dự báo được hưởng lợi lớn từ các hiệp định thương mại tự do, cả xuất khẩu và nhập khẩu, trong đó các sản phẩm nhựa hiện xuất khẩu đến 160 quốc gia trên thế giới. Hiện, thị trường xuất khẩu chính của nhựa Việt Nam là Mỹ và Nhật Bản.
Ngoài ra, các sản phẩm nhựa Việt Nam được đánh giá rất cao ở thị trường châu Âu. Một số thị trường tiềm năng trong thời gian tới cho nhựa Việt Nam là: Trung Quốc, Ấn Độ, Đông Âu, Nga, châu Phi,… 8 Ưu thế trên thị trường quốc tế của nhựa Việt Nam là không bị áp thuế chống phá giá như các sản phẩm đến từ các nước châu Á khác. Điều này giúp nhựa của doanh nghiệp Việt có lợi thế về giá 8% – 30% so với các đối thủ cạnh tranh khác. Các sản phẩm từ nhựa của Việt Nam đều đạt tiêu chuẩn Iso 9001, các tiêu chuẩn về an toàn thực phẩm HACCP cũng góp phần giúp Việt Nam tạo lợi thế cạnh tranh so với các nước khác.
- Giá thành cạnh tranh, nguồn nhân lực dồi dào Giá thành, nguồn nhân lực là một trong những ưu thế rất lớn cho ngành Nhựa Việt Nam hiện nay. Các sản phẩm của Việt Nam xuất khẩu luôn được các khách hàng ưu tiên vì giá thành rẻ, phong phú về chất lượng, chủng loại. Cùng với đó, do các nhà máy sản xuất tại Việt Nam được hưởng nhiều ưu đãi từ chính phủ, nguồn nhân lực dồi dào nên không bị khan hiếm hàng, ngay cả trong những giai đoạn khó khăn chung của cả thị trường. - Sản phẩm nhựa nội địa ngày càng có sức cạnh tranh Bên cạnh đó, theo khảo sát thị trường, sản phẩm nhựa do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hiện rất đa dạng về chủng loại và đáp ứng tốt nhu cầu của nhiều lĩnh vực khác nhau.
Trong đó, nổi bật nhất là nhựa dùng làm bao bì, đồ dùng gia đình, văn phòng phẩm và đồ chơi. Ngoài ra, nhựa nội địa còn phục vụ cho các ngành khác như: Điện, điện tử, ô tô,… Các sản phẩm nhựa nội địa được đánh giá có chất lượng và sức cạnh tranh tranh tương đối tốt với các công ty nước ngoài tại Việt Nam, cũng như các mặt hàng nhựa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam. Những doanh nghiệp nhựa nội địa đã, đang đẩy mạnh đầu tư công nghệ, nhà xưởng, liên kết cùng các công ty nước ngoài để tập trung đầu tư sản phẩm cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Những sản phẩm đòi hỏi chất lượng cao như ống dẫn dầu, đồ nhựa cho ôtô và máy vi tính cũng đã được nhiều doanh nghiệp Việt sản xuất thành công.
Với sự phát triển từ nội tại các doanh nghiệp nhựa, cùng nhiều cơ hội tại thị trường trong nước đã giúp cho ngành nhựa tại Việt Nam có sự phát triển nhanh chóng. 9 Và nội địa cũng đang trở thành thị trường có nhiều tiềm năng và cơ hội để các doanh nghiệp tăng tốc trong giai đoạn tới. Thách thức: Những yếu tố quan trọng của nền kinh tế như tốc độ tăng trưởng, lạm phát, tăng trưởng tín dụng, tỷ giá… sẽ là những yếu tố thách thức vĩ mô, tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Cùng với đó, phần lớn số nguyên liệu sản xuất nhựa đều phải nhập khẩu (theo thống kê thì con số này lên đến 80%).
Chính vì thế mà nhiều doanh nghiệp không chủ động được nguồn nguyên liệu, chi phí nhập liệu đắt dẫn đến giá thành sản phẩm cao, gây trở ngại cho việc cạnh tranh với các nước trong khu vực. Việt Nam chưa chú trọng nhiều vào việc đầu tư dây chuyền sản xuất, trong khi đó ngành công nghiệp nhựa các nước trên thế giới đang đứng đầu trong việc lắp đặt và xây dựng máy móc tiên tiến hiện đại. Năng lực sản xuất, hàm lượng chất xám, công nghệ cao trong các sản phẩm nhựa của Việt Nam thấp khiến đây trở thành thách thức lớn. Trong hệ thống sản xuất và đóng gói thì từng quá trình không có sự chuyên biệt hóa, do vậy chất lượng sản phẩm không ổn định, giá trị gia tăng thấp.
Hơn nữa, khi các hiệp định thương mại quốc tế có hiệu lực, rào cản thuế quan được gỡ bỏ, thì áp lực cạnh tranh cũng tăng lên rất nhiều. Đặc điểm nguồn lực và tình hình kinh doanh của NTP 2. Giới thiệu về NTP Công ty CP Nhựa Thiếu niên Tiền Phong (Viết tắt theo Mã CK: NTP) tiền thân là Nhà máy Nhựa Thiếu niên Tiền Phong, được thành lập từ năm 1960 với quy mô gồm 04 nhà xưởng chính: Phân xưởng cơ khí, phân xưởng nhựa trong (polystyrol) và phân xưởng bóng bàn, đồ chơi. Cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế và thực hiện công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước, Công ty đã mạnh dạn chuyển đổi mô hình hoạt động sang công ty cổ 10 phần và sản xuất mặt hàng ống và phụ tùng nhựa cho phù hợp với nhu cầu của thị trường từ những năm 1990.
Kể từ đó đến nay, các chủng loại sản phẩm ống nhựa PVC, PEHD, PPR mang thương hiệu NTP đã trở thành biểu tượng về chất lượng trong các lĩnh vực cung cấp nước sạch, tiêu thoát nước thải phục vụ nhu cầu dân dụng và sử dụng trong các ngành xây dựng, công nghiệp, nông nghiệp… không chỉ tại Việt Nam mà còn tại thị trường nước ngoài như Lào, New Zealand, Hồng Kông … Công ty cũng đã đăng ký bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa tại 5 nước là:Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia và Myanmar. Sau hơn 60 năm xây dựng và phát triển, NTP đã và đang khẳng định được vị trí ưu tú trên bản đồ kinh tế Việt Nam, tiếp tục đóng góp ngân sách ở mức cao trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Trong định hướng phát triển lâu dài, Nhựa Tiền Phong đặt ra mục tiêu tăng trưởng 10-15% mỗi năm và luôn gắn liền với tôn chỉ "Chất lượng là trên hết, đảm bảo quyền lợi chính đáng cho người tiêu dùng". Tình hình kinh doanh của NTP hiện nay Nhờ kiểm soát chặt các chi phí trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời kịp thời đưa ra những giải pháp ứng phó linh hoạt với đà tăng giá của nguyên liệu cũng như chuỗi cung ứng đứt gãy, NTP tiếp tục duy trì được sự tăng trưởng.
- Từ năm 2019 đến 2021, doanh nghiệp luôn vượt chỉ tiêu kinh doanh đã đề ra từ 7 - 21%, đặc biệt là năm 2021, mặc dù thị trường hoạt động rất khó khăn, nhưng lợi nhuận trước thuế vẫn đạt 521,4 tỷ đồng, vượt kế hoạch đến 21% và doanh thu đạt 4.877 tỷ đồng, tăng trưởng 11% so với năm 2020. - Với doanh thu năm 2021 của toàn hệ thống đạt gần 5.800 tỷ đồng, thương hiệu NTP vẫn giữ vững vị trí là nhà sản xuất ống nhựa lớn nhất Việt Nam. - Năm 2022, luỹ kế cả năm NTN đạt 5.685 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 18% so với kết quả thực hiện của năm 2021. Trong khi đó, lợi nhuận sau thuế của Nhựa Tiền Phong đạt 479,5 tỷ đồng tăng 2,7% so với năm 2021.
11 Báo cáo phân tích từ Chứng khoán Thành Công (TCSC) cho biết, 2014 - 2017 là giai đoạn tăng trưởng bùng nổ của các doanh nghiệp ngành nhựa xây dựng, trong đó NTP là một trong hai doanh nghiệp niêm yết dẫn đầu về công suất thiết kế cũng như thị phần trên cả nước; Giai đoạn 2014 - 2022, tốc độ tăng trưởng doanh thu thuần của Công ty đạt trung bình là 9%/năm. Biên lợi nhuận gộp của NTP cũng đứng đầu ngành nhựa, trung bình giai đoạn 2014 – 2022, biên lãi gộp Công ty đạt 30%, cao hơn so với các công ty cùng ngành khác (Nhựa Bình Minh ghi nhận khoảng 22%). Tính đến cuối năm 2022, tổng tài sản của NTP đạt gần 5.1 ngàn tỷ đồng, vốn hóa đạt 4. Với những kết quả trên, NTP luôn duy trì được vị thế TOP đầu ngành nhựa và là một trong 2 doanh nghiệp niêm yết ngành nhựa có thị phần lớn nhất.
Đánh giá Điểm mạnh - Điểm yếu - Cơ hội - Thách thức của NTP Bảng 2: Phân tích SWOT của NTP Điểm mạnh Điểm yếu - Nhựa Tiền Phong có thương hiệu lâu đời, - Rủi ro biến động giá nguyên liệu đầu vào bền bỉ từ năm 1990 đến nay, đặc biệt là một và tỷ giá cũng là 2 yếu tố tác động lên hiệu doanh nghiệp ngành nhựa có sức ảnh quả kinh doanh của Nhựa Tiền Phong. Với hưởng lớn tại thị trường miền Bắc và tại đặc thù phải nhập khẩu 100% hạt nhựa Việt Nam. (chiếm 70% chi phí nguyên liệu) và sử dụng tiền thanh toán chủ yếu là USD, - Công nghệ sản xuất hiện đại bậc nhất với EUR, Nhựa Tiền Phong chịu rủi ro kép với tổng năng lực sản xuất hơn 190.000 giá nguyên liệu đầu vào và tỷ giá. Giai tấn/năm, dây chuyền sản xuất và công đoạn vừa qua, Nhựa Tiền Phong đã có nghệ nhập khẩu từ các thương hiệu nổi chính sách dự phòng tốt về nguyên liệu, tiếng thế giới.
Hiện Nhựa Tiền Phong có cùng sự ổn định về giá hạt nhựa nên rủi ro 03 nơi sản xuất tại cả ba miền Bắc, Trung, này cũng không ảnh hưởng quá lớn đến lợi 12 Nam. Đây là tiền đề để doanh nghiệp có nhuận công ty. thể đạt được mục tiêu mở rộng thị trường tại các khu vực trên khắp cả nước và khu vực, đáp ứng tăng trưởng nhu cầu của - Là doanh nghiệp đã hoạt động hơn 60 khách hàng trong tương lai. năm, nên việc thay đổi, bứt phá trở nên thận trọng.
Điều này khiến doanh nghiệp - Hệ thống sản phẩm đa dạng, chất lượng khó có những bước tiến vượt bậc. vượt trội: Nhựa Tiền Phong luôn đi đầu trong việc sản xuất các sản phẩm tiêu chuẩn quốc tế với chất lượng đã được - Sức ép thị phần và lợi nhuận: Mức tăng khẳng định.