Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp được thực hiện trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam sau hơn 10 năm thực hiện đường lối Đổi mới và mở cửa, từng bước chuyển dịch từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới mang lại cơ hội mở rộng thị trường nhưng đồng thời đặt các doanh nghiệp xuất khẩu trước sức ép cạnh tranh gay gắt. Ngành sản xuất và xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam khi đó chủ yếu dựa vào kỹ thuật thủ công, trang thiết bị máy móc còn hạn chế, quy mô sản xuất nhỏ lẻ, chưa kịp thích nghi với các yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế về mẫu mã, chất lượng và định giá.

Công ty Xuất nhập khẩu Thủ công mỹ nghệ Hà Nội (ARTEXPORT) – doanh nghiệp có bề dày hoạt động ngoại thương – đứng trước yêu cầu phải chuyển đổi toàn diện từ cơ cấu tổ chức, phương thức sản xuất đến công tác nghiên cứu thị trường và tiếp thị sản phẩm nhằm duy trì vị thế cạnh tranh. Khóa luận tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu sau:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận về Marketing nói chung và Marketing xuất khẩu trong điều kiện kinh tế thị trường.
  2. Đánh giá toàn diện thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và các hoạt động Marketing xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ tại Công ty ARTEXPORT giai đoạn chuyển đổi cơ chế.
  3. Phân tích nguyên nhân của những thành công, hạn chế, mâu thuẫn nội tại và thách thức môi trường bên ngoài tác động đến doanh nghiệp.
  4. Đề xuất các nhóm giải pháp và định hướng Marketing xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh mặt hàng thủ công mỹ nghệ của công ty.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Các hoạt động Marketing trong kinh doanh xuất khẩu mặt hàng thủ công mỹ nghệ.
  • Phạm vi không gian: Công ty Xuất nhập khẩu Thủ công mỹ nghệ Hà Nội (ARTEXPORT), trụ sở chính tại 31-33 Ngô Quyền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội; 3 chi nhánh/văn phòng đại diện tại Hải Phòng, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh; các xưởng sản xuất trực thuộc và hệ thống làng nghề vệ tinh (Bát Tràng, Đồng Kỵ, Đình Bảng, Nga Sơn, Kim Sơn...).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu phản ánh quá trình hoạt động từ năm 1964 đến giai đoạn 1995–1999, cùng bối cảnh tỷ giá đầu những năm 2000.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng nền tảng phân tích dựa trên các khung lý thuyết kinh tế và quản trị tiếp thị quốc tế:

  • Lý thuyết thương mại quốc tế: Vận dụng quy luật lợi thế tương đối (Comparative Advantage) của nhà kinh tế học David Ricardo để luận giải tính tất yếu của việc chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi hàng thủ công mỹ nghệ giữa các quốc gia.
  • Lý luận Marketing căn bản và hiện đại: Tiếp cận các định nghĩa và mô hình Marketing từ Học viện Hamilton (Mỹ), Ủy ban Hiệp hội Marketing Mỹ (AMA), Viện Marketing Anh (CIM) và Philip Kotler; phân biệt sự chuyển biến từ Marketing truyền thống (định hướng sản xuất, "bán cái mình có") sang Marketing hiện đại (định hướng thị trường và khách hàng, "bán cái thị trường cần").
  • Hệ thống Marketing-Mix (4P): Khung phân tích 4 chính sách bao gồm Sản phẩm (Product - chu kỳ sống 4 giai đoạn: tung ra thị trường, tăng trưởng, bão hòa/trưởng thành, suy thoái), Giá cả (Price - 5 giai đoạn định giá và các phương pháp định giá căn cứ vào chi phí, điểm hòa vốn, giá trị cảm nhận, giá cạnh tranh), Phân phối (Place - kênh cấp không, cấp 1, cấp 2, cấp 3; chiến lược phân phối rộng rãi, độc quyền/rộng quyền, chọn lọc), và Giao tiếp khuếch trương (Promotion - quảng cáo, xúc tiến bán, bán hàng cá nhân, tuyên truyền).
  • Khung phân tích môi trường Marketing quốc tế: Đánh giá các biến số vĩ mô gồm môi trường toàn cầu (thuế quan, hạn ngạch, rào cản phi thuế quan), môi trường kinh tế, môi trường chính trị - luật pháp (trong nước và nước nhập khẩu), môi trường văn hóa, môi trường cạnh tranh và môi trường khoa học kỹ thuật.
  • Phương pháp nghiên cứu: Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, phân tích - tổng hợp logic, thống kê mô tả, so sánh đối chiếu số liệu thứ cấp nội bộ từ Phòng Tài chính Kế hoạch của ARTEXPORT và các văn bản quản lý nhà nước (như Quyết định số 617/BNT-BCCS năm 1964 và Quyết định 685/TM/TCCB năm 1993 của Bộ Thương mại).

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề lí luận Marketing - Xuất khẩu

Chương I tập trung trình bày lịch sử hình thành, bản chất và vai trò của Marketing trong quản trị kinh doanh hiện đại:

  • Quá trình phát triển Marketing: Phân tích giai đoạn Marketing truyền thống (từ đầu thế kỷ 20 đến Chiến tranh Thế giới thứ 2, tập trung vào khâu lưu thông, bán hàng có sẵn) và bước ngoặt chuyển sang Marketing hiện đại sau cuộc khủng hoảng kinh tế thừa 1929–1932, lấy việc phát hiện và thỏa mãn nhu cầu người tiêu dùng làm trung tâm của chu trình tái sản xuất.
  • Cấu trúc Marketing-Mix: Làm rõ nội hàm của 4 công cụ chính sách:
    • Chính sách sản phẩm: Quản lý vòng đời sản phẩm qua 4 pha (tung ra, tăng trưởng, trưởng thành, suy thoái) để có chiến lược ứng xử tương ứng.
    • Chính sách giá cả: Xác lập quy trình định giá qua 5 giai đoạn (xác định mục tiêu, tính toán tổng chi phí, dựng đường cầu, khảo sát đối thủ, chọn phương pháp định giá).
    • Chính sách phân phối: Xác định chức năng kênh và cấu trúc mạng lưới phân phối từ kênh trực tiếp (cấp không) đến kênh trung gian đa cấp (cấp 1, cấp 2, cấp 3).
    • Chính sách khuếch trương: Phối thức giữa quảng cáo, xúc tiến bán hàng, bán hàng cá nhân và quan hệ công chúng (tuyên truyền) phù hợp theo loại hàng hóa và từng pha vòng đời.
  • Đặc điểm Marketing xuất khẩu: Khẳng định Marketing xuất khẩu có tính chất tương đồng với Marketing công nghiệp (khách hàng phần lớn là tổ chức, đại lý bán buôn, nhà phân phối). Phân định hai phương thức thâm nhập thị trường: xuất khẩu trực tiếp (kiểm soát tốt kênh, quan hệ trực tiếp nhưng rủi ro cao) và xuất khẩu gián tiếp qua ủy thác (ít vốn, an toàn nhưng biên lợi nhuận thấp, hạn chế kiểm soát thị trường).

Chương II: Thực trạng hoạt động Marketing của Công ty Xuất nhập khẩu Thủ công Mỹ nghệ - ARTEXPORT

Chương II phản ánh bức tranh thực tiễn hoạt động sản xuất kinh doanh và tiếp thị xuất khẩu của ARTEXPORT:

  • Lịch sử và cơ cấu tổ chức: Thành lập năm 1964 theo Quyết định 617/BNT-BCCS của Bộ Ngoại thương. Đến năm 1993, Bộ Thương mại ban hành Quyết định 685/TM/TCCB cho phép công ty mở rộng sang kinh doanh xuất nhập khẩu tổng hợp bên cạnh mặt hàng truyền thống. Bộ máy gồm: Ban Giám đốc, Văn phòng (12 người), Phòng Tổ chức Cán bộ (7 người), Phòng Tài chính Kế hoạch (11 người), Phòng Thị trường Hàng hóa, 10 phòng nghiệp vụ xuất nhập khẩu trực tiếp (Phòng XNK 2 đến Phòng XNK 11, chia theo nhóm hàng: thêu, gốm sứ, cói dép, mỹ nghệ...), 3 chi nhánh/văn phòng đại diện (Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM), 2 xưởng trực thuộc (xưởng gỗ, xưởng thêu) và phòng trưng bày sản phẩm.
  • Năng lực sản xuất và tạo nguồn hàng:
    • Gốm sứ: Công ty sở hữu 5 lò nung gốm, chu kỳ nung 2 lần/tuần/lò (tương đương 40 lò/tháng, 480 lò/năm), giá trị ước tính 1,4 triệu đồng/lò, đạt sản lượng gần 700 triệu đồng/năm (khoảng 65.000 USD/năm). So với quy mô 700 lò tại làng gốm Bát Tràng, quy mô công ty còn nhỏ lẻ.
    • Mây tre sơn mài: Xuất khẩu trung bình 3 container 20 feet/tháng (36 container/năm), giá trị bình quân 4.000 USD/container, tổng doanh số 144.000 USD/năm.
    • Hàng gỗ mỹ nghệ: Sản xuất và xuất khẩu 2 container/tháng (24 container/năm), đơn giá bình quân 10.000 USD/container, doanh số 240.000 USD/năm. Công suất thiết bị mới khai thác 50% ở chế độ 1 ca, lãi ròng đạt 0,5% doanh thu (12.000 USD, tương đương 168 triệu đồng).
    • Thu mua ngoài và liên kết: Áp dụng các phương thức liên doanh liên kết vốn, hỗ trợ vốn ứng trước để bao tiêu sản phẩm giá ưu đãi, và nhận làm dịch vụ xuất khẩu ủy thác cho các làng nghề, cơ sở tư nhân tại Kim Sơn (Ninh Bình), Nga Sơn (Thanh Hóa), Thái Bình.
Nhóm mặt hàng sản xuất nội bộ Năng lực / Sản lượng hàng năm Doanh số / Kim ngạch ước tính
Gốm sứ 5 lò nung (480 lượt nung/năm) ~700 triệu VNĐ (~65.000 USD)
Mây tre sơn mài 36 container 20 feet/năm 144.000 USD
Gỗ mỹ nghệ 24 container/năm (hiệu suất 50%) 240.000 USD (lãi ròng 12.000 USD)
  • Thực trạng triển khai 4P tại ARTEXPORT:
    • Nghiên cứu thị trường: Chưa có phòng Marketing chuyên trách; nghiệp vụ thị trường do các phòng xuất khẩu tự thực hiện chủ yếu qua bạn hàng truyền thống, hội chợ triển lãm và ấn phẩm niên giám thương mại.
    • Sản phẩm: Tập trung 3 nhóm hàng chủ lực gồm gốm sứ Bát Tràng, song mây tre sơn mài Hà Bắc, đồ gỗ Linh Lam. Chú trọng kiểm tra chất lượng thu hóa từng sản phẩm, đóng gói bao bì trước khi xếp container.
    • Phân phối: Chủ yếu sử dụng kênh cấp 1 và cấp 2 (Công ty $\rightarrow$ Nhà nhập khẩu nước ngoài $\rightarrow$ Đại lý thương mại $\rightarrow$ Người tiêu dùng), tối ưu hóa việc đóng hàng trực tiếp tại kho thay vì chuyển lẻ ra cảng Hải Phòng.
    • Giá cả: Chịu sức ép cạnh tranh nội bộ gay gắt giữa các đơn vị được cấp phép xuất khẩu trong nước và hiện tượng phá giá xuất khẩu. Công ty áp dụng chiến lược tiết giảm chi phí lưu kho, hạ giá bán để quay vòng nhanh vốn lưu động.
    • Khuếch trương: Duy trì quảng cáo trên Trang Vàng bưu điện, sách Danh bạ doanh nghiệp (Directory Vietnam), in catalogue, tham gia hội chợ thương mại trong nước, tiếp xúc cơ quan đại diện ngoại giao và duy trì quan hệ báo chí.

Chương III: Một số biện pháp Marketing xuất khẩu nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Công ty ARTEXPORT

Chương III phân tích các yếu tố môi trường tác động và định vị các điều kiện nội tại của doanh nghiệp:

  • Đánh giá môi trường bên ngoài:
    • Môi trường chính trị - pháp lý: Sự ổn định chính trị tại các thị trường nhập khẩu tư bản chủ nghĩa (Tây Bắc Âu, Châu Á - Thái Bình Dương) giúp giảm rủi ro; thuế suất nhập khẩu hàng thủ công mỹ nghệ tại các thị trường này dao động 10–15% và có xu hướng giảm. Trong nước, Nhà nước khuyến khích xuất khẩu nhưng thiếu cơ chế điều tiết thống nhất trong khâu thu mua, dẫn tới tình trạng cạnh tranh mua bán thả nổi.
    • Tác động tỷ giá: Khủng hoảng tài chính tiền tệ châu Á và sự biến động tỷ giá hối đoái gây khó khăn trong định giá (thời điểm năm 2000, tỷ giá ở mức xấp xỉ 12.000 VND/USD, tạo lợi thế hạ giá thành quy đổi ngoại tệ để cạnh tranh xuất khẩu).
    • Môi trường cạnh tranh: Cạnh tranh quốc tế từ các quốc gia sản xuất lớn như Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan; cạnh tranh trong nước từ các doanh nghiệp cùng ngành như Công ty Lam Sơn, Công ty Artex Thăng Long trong việc tranh giành nguồn hàng và đối tác xuất khẩu.
  • Đánh giá môi trường bên trong:
    • Cơ cấu quản trị: Doanh nghiệp chưa thiết lập phòng Marketing riêng biệt; sự phối hợp giữa 10 phòng nghiệp vụ còn phân tán, kế hoạch kinh doanh còn dựa nhiều vào kinh nghiệm cảm tính.
    • Tiềm lực tài chính: Tổng vốn pháp định của ARTEXPORT là 7 triệu USD (vốn Nhà nước cấp 5 triệu USD, vốn tự có 2 triệu USD); cơ cấu vốn sử dụng gồm 4 triệu USD vốn lưu động và 3 triệu USD vốn cố định.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu và dữ liệu thực tế

Khóa luận đã tổng hợp các mốc số liệu kinh doanh xuất khẩu quan trọng của ARTEXPORT qua các giai đoạn:

  • Giai đoạn 1976–1980 (Kế hoạch 5 năm): Tổng kim ngạch đạt 234,6 triệu rúp/USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 194,6 triệu rúp/USD.
  • Giai đoạn 1981–1985: Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 289,3 triệu rúp/USD, bình quân đạt trên 57 triệu rúp/USD/năm, đỉnh điểm năm 1984 đạt 66 triệu rúp/USD.
  • Kim ngạch các năm đơn lẻ trước đổi mới: Năm 1987 đạt 87 triệu rúp/USD; năm 1988 đạt 94 triệu rúp/USD; năm 1989 đạt 110 triệu rúp/USD (chiếm xấp xỉ 10% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn quốc).
  • Giai đoạn 1995–1999: Mặt hàng gốm sứ luôn giữ tỷ trọng xuất khẩu cao nhất (năm 1995 chiếm 35,9% tổng kim ngạch công ty). Kim ngạch xuất khẩu gốm sứ sang thị trường Đức năm 1997 đạt 894.479 USD, năm 1998 tăng mạnh lên 1.872.532 USD.

Các giải pháp do tác giả đề xuất

  • Tái cấu trúc tổ chức bằng việc thành lập bộ phận/phòng Marketing chuyên trách để thống nhất chiến lược thị trường, chấm dứt tình trạng cạnh tranh cục bộ giữa các phòng nghiệp vụ.
  • Đổi mới chính sách sản phẩm: Tăng cường đầu tư thiết bị cơ giới hóa các khâu nặng nhọc (máy cưa, máy đục, lò nung gas/điện) nhằm nâng cao công suất xưởng gỗ từ 50% lên 70% (tăng lợi nhuận lên 24.000 USD) và mở rộng quy mô lò gốm lên 15–20 lò để đạt kim ngạch 380.000 USD.
  • Hoàn thiện chính sách giá và phân phối: Thiết lập cơ chế định giá linh hoạt theo biến động tỷ giá và chi phí; mở rộng hợp đồng bao tiêu, liên doanh liên kết bền vững với làng nghề nhằm ổn định nguồn cung và tránh bị ép giá trên thị trường quốc tế.
  • Tăng cường hoạt động giao tiếp khuếch trương: Tối ưu chi phí tiếp thị qua kênh báo chí, hội chợ quốc tế và hệ thống xúc tiến thương mại nhà nước.

Đóng góp của đề tài

Tác giả đã hệ thống hóa mô hình tổ chức kinh doanh của một doanh nghiệp xuất nhập khẩu ngoại thương quy mô lớn trong giai đoạn chuyển đổi cơ chế; chỉ ra mâu thuẫn giữa mô hình quản trị hành chính thời kỳ bao cấp với yêu cầu vận hành theo chuỗi giá trị Marketing hiện đại.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi số liệu tài chính và chuỗi dữ liệu kinh doanh phân tích chi tiết dừng lại ở giai đoạn 1995–1999. Các giải pháp Marketing-Mix đưa ra chủ yếu mang tính định hướng tổ chức và chính sách chung cho doanh nghiệp nhà nước, chưa lượng hóa chi tiết ngân sách triển khai cho từng thị trường mục tiêu cụ thể.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu chiến lược thương hiệu quốc tế cho hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam; phân tích sâu tác động của các hiệp định thương mại tự do và cơ chế bảo hộ sở hữu trí tuệ đối với các mẫu mã thủ công truyền thống khi bước vào các thị trường lớn (Mỹ, EU, Nhật Bản).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên và học viên chuyên ngành Marketing, Kinh doanh Quốc tế, Kinh tế Ngoại thương tham khảo cấu trúc phân tích thực trạng Marketing tại doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
  • Nội dung giá trị: Bức tranh tư liệu lịch sử và số liệu chi tiết về ngành thủ công mỹ nghệ Việt Nam thời kỳ chuyển đổi từ xuất khẩu theo Nghị định thư (khối Liên Xô - Đông Âu) sang cơ chế thị trường tự do hạch toán; phương thức tổ chức chuỗi cung ứng kết hợp giữa xưởng sản xuất trực thuộc và mạng lưới làng nghề truyền thống.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận nghiên cứu tại đơn vị nào và do ai hướng dẫn? Đề tài nghiên cứu tại Công ty Xuất nhập khẩu Thủ công Mỹ nghệ Hà Nội (ARTEXPORT), do sinh viên Nguyễn Hồng Quân (Lớp Marketing 38A, Đại học Kinh tế Quốc dân) thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.S Vũ Minh Đức và các cán bộ Phòng Xuất nhập khẩu 11 của ARTEXPORT.

2. Quy mô vốn và năng lực tài chính của ARTEXPORT được ghi nhận như thế nào trong văn bản? Công ty có tổng vốn pháp định là 7 triệu USD, gồm 5 triệu USD vốn do Nhà nước cấp và 2 triệu USD vốn tự có. Về mặt phân bổ sử dụng, vốn lưu động chiếm 4 triệu USD và vốn cố định chiếm 3 triệu USD.

3. Cơ cấu bộ máy tổ chức của ARTEXPORT có điểm gì đặc thù so với các doanh nghiệp thương mại thông thường? Bộ máy công ty được chia thành Văn phòng (12 người), Phòng Tổ chức Cán bộ (7 người), Phòng Tài chính Kế hoạch (11 người), Phòng Thị trường Hàng hóa, 10 phòng nghiệp vụ xuất nhập khẩu riêng biệt trực tiếp ký kết và thực hiện thương vụ theo từng nhóm hàng (thêu, gốm sứ, cói dép, mỹ nghệ...), 3 chi nhánh/văn phòng đại diện tại Hải Phòng, Đà Nẵng, TP.HCM cùng các xưởng sản xuất gỗ, xưởng thêu và phòng trưng bày sản phẩm.

4. Vì sao ARTEXPORT gặp khó khăn lớn về thị trường xuất khẩu vào đầu thập niên 1990? Do sự biến động chính trị và tan rã của khối các nước xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô và Đông Âu – vốn là thị trường xuất khẩu chính theo cơ chế Nghị định thư của công ty trước năm 1989. Khi chuyển sang cơ chế hạch toán độc lập, công ty bị mất bạn hàng truyền thống và phải chuyển hướng cạnh tranh sang các thị trường tư bản chủ nghĩa.

5. Năng lực sản xuất nội bộ các mặt hàng chủ lực của công ty đạt mức nào? Công ty có 5 lò nung gốm (đạt khoảng 480 lượt nung/năm, giá trị ~700 triệu VNĐ), sản xuất mây tre sơn mài đạt 36 container 20 feet/năm (doanh số 144.000 USD), và sản xuất đồ gỗ đạt 24 container/năm (công suất 50%, doanh số 240.000 USD, lãi ròng 12.000 USD tương đương 168 triệu VNĐ).


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Hồng Quân là công trình nghiên cứu chuyên sâu về thực trạng ứng dụng Marketing xuất khẩu tại Công ty ARTEXPORT trong giai đoạn bản lề chuyển dịch kinh tế. Bằng việc phân tích toàn diện chuỗi sản xuất, tạo nguồn và phân phối các sản phẩm thủ công mỹ nghệ, tác giả đã chỉ rõ các nút thắt trong công tác quản trị và xúc tiến thương mại quốc tế của doanh nghiệp. Những đề xuất về việc thành lập bộ phận Marketing chuyên trách, tối ưu công suất thiết bị xưởng sản xuất và liên kết chuỗi làng nghề mang giá trị thực tiễn đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp xuất khẩu thủ công mỹ nghệ.