CHƯƠNG I: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý thuyết về mô hình Stressor - Strain - Outcome (SSO) Khung lý thuyết căng thẳng - căng thẳng - kết quả (SSO), được nghiên cứu lần đầu tiên bởi Koeske & Koeske vào năm 1993, là một khung lý thuyết phổ biến trong lĩnh vực nghiên cứu truyền thông xã hội. SSO đã được áp dụng trong nhiều nghiên cứu, bao gồm nghiên cứu về tiền đề của sự mệt mỏi trên mạng xã hội (Dhir và cộng sự, 2019; Whelan và cộng sự, 2020) và sự không hài lòng (Zhang và cộng sự, 2016). Ngoài ra, SSO còn được sử dụng để nghiên cứu các điều kiện tâm lý và căng thẳng liên quan đến công việc (Koeske và cộng sự, 1993), cũng như những điều kiện tiên quyết cụ thể có thể gây ra căng thẳng khi sử dụng công nghệ (Ayyagari và cộng sự, 2011).
Khung lý thuyết này bao gồm ba khía cạnh chính của (a) tác nhân gây căng thẳng: tác nhân kích thích hành vi và cảm xúc (tức là tâm lý) có thể tác động đối với các cá nhân; (b) căng thẳng: những cảm xúc hoặc trạng thái bất lợi trải qua do căng thẳng; và (c) kết quả: sự suy giảm hiệu suất, năng suất cũng như chức năng tâm lý và sinh lý của cá nhân do căng thẳng (Dhir và cộng sự, 2019). Trong môi trường tổ chức, yếu tố gây căng thẳng là điều kiện của các yếu tố tạo ra căng thẳng và căng thẳng là kết quả tâm lý của tác nhân căng thẳng gây nên. Hơn nữa, căng thẳng làm trung gian tác động của các yếu tố gây căng thẳng đối với các biến kết quả nhận thức. Khung lý thuyết căng thẳng - căng thẳng - kết quả (SSO) được lựa chọn để định hình khung nghiên cứu vì nó cho phép nghiên cứu mối quan hệ giữa một người và hoàn cảnh của họ đối với những căng thẳng tâm lý mà họ đã trải qua, cũng như những thay đổi mà cá nhân áp dụng trong kết quả hành vi của họ để tránh những hậu quả bất lợi tiềm ẩn mà những chủng này có thể gây ra (Malik và cộng sự, 2020).
Chúng tôi chọn lý thuyết này để nghiên cứu vì nó cho phép kiểm tra chi tiết mức độ ảnh hưởng của các yếu tố gây căng thẳng đến nỗi sợ bỏ lỡ của người dùng trên các nền tảng mạng xã hội. Sự phổ biến của mạng xã hội trong cuộc sống con người làm cho việc nghiên cứu những yếu tố gây căng thẳng và hậu quả tiêu cực mà sử dụng mạng xã hội có thể gây ra đối với sức khỏe người dùng trở nên quan trọng (Luqman và cộng sự, 2021; Wu và cộng sự, 2020). Ngoài ra, lý thuyết này đã được sử dụng thành 17 công trong việc kiểm tra ảnh hưởng tiêu cực của sử dụng mạng xã hội đến trạng thái tâm lý và hành vi của người dùng trong các nghiên cứu trước đó (Dhir và cộng sự, 2019; Malik và cộng sự, 2020). Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng việc áp dụng khung lý thuyết SSO có thể cung cấp cho chúng ta những diễn giải sâu sắc hơn, đó là một điều quan trọng để hiểu được tiền đề và hậu quả của các hành vi tiêu cực.
Hơn nữa, khung SSO phân biệt rõ ràng giữa căng thẳng tâm lý chung và các hậu quả hành vi liên quan, thay vì coi chúng như một khái niệm tổng thể về căng thẳng. Nghiên cứu của chúng tôi giả định rằng việc tiếp nhận và xử lý thông tin quá tải sẽ là yếu tố gây căng thẳng ảnh hưởng đến trải nghiệm FOMO (căng thẳng) của người tiêu dùng, và dẫn đến hành vi mua sắm bốc đồng của họ. Cơ sở lý thuyết về Nỗi sợ bỏ lỡ - Fear of missing out 1. Khái niệm Các trang mạng xã hội như Facebook, Instagram, Tik Tok, v.
đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của nhiều người, dẫn đến sự phụ thuộc vào chúng trở thành hiện tượng phổ biến. Vì vậy, một thuật ngữ mới đã được đưa ra để miêu tả hiện tượng này, đó là "Fear Of Missing Out" hay còn gọi là "sợ bỏ lỡ". Bài nghiên cứu của Dan Herman vào năm 1996 đề cập đến tâm lý sợ bị bỏ lỡ hay FOMO (Fear of missing out) lần đầu tiên. Theo đó, FOMO được coi là một thái độ sợ hãi, lo lắng của một cá nhân khi họ không tận dụng được các cơ hội sẵn có.
Một số bài nghiên cứu đã đề xuất nhiều khái niệm khác về FOMO bởi các học giả sau đó. Reagan (2015) cho rằng FOMO là sự lo lắng với những trải nghiệm bị bỏ lỡ. Jones (2016) định nghĩa FOMO là sự lo lắng hoặc e ngại những người khác có thể đang trải nghiệm điều gì đó mà mình không có. Theo từ điển của Cambridge, FOMO là một cảm giác lo lắng rằng bạn có thể bỏ lỡ các sự kiện thú vị mà những người khác sẽ tham gia.
Mặc dù có nhiều khái niệm về FOMO, tuy nhiên điểm chung của các khái niệm đều cho thấy FOMO là cảm giác mọi người sợ bị bỏ lỡ hay sợ đánh mất cơ hội. Đây là triệu chứng tâm lý mà người mắc phải sẽ có cảm giác sợ bị bỏ lỡ, tụt hậu đối với 18 những trải nghiệm mà mọi người xung quanh có. Bởi vậy, những người khi rơi vào hội chứng này sẽ có những quyết định dựa vào cảm tính và thiếu phần lý trí. Hiệu ứng FOMO của mỗi cá nhân là khác nhau.
Các nghiên cứu chỉ ra rằng hiệu ứng FOMO phổ biến hơn ở những người không được đáp ứng các nhu cầu tâm lý cơ bản (Odabaşı, 2017). Những cá nhân trải qua cảm giác này thường xuyên so sánh cuộc sống của họ với những người khác mãnh liệt hơn, họ luôn nghĩ rằng những người khác có tiêu chuẩn cuộc sống tốt hơn họ (Aydın, 2018). Bởi vì FOMO là một hiện tượng tâm lý, nên dễ dàng nhận ra những đặc điểm của một cá nhân mắc phải hội chứng FOMO. Đối với những người này, FOMO thể hiện thông qua tâm lý tham lam khi muốn đạt được những gì mà người khác có; tâm lý đám đông, hùa theo số đông mua những thứ đồ mà ngay chính bản thân mình còn không biết là có sử dụng đến hay không; …Có thể nói FOMO là hệ quả của việc sử dụng mạng xã hội, sử dụng trang mạng xã hội, sử dụng điện thoại thông minh,.
Tài liệu liên quan đến nghiên cứu FOMO Tác giả/Năm Biến Các biến liên quan đến Kết quả FOMO FOMO Przybylski, và MEV Tương tác trên mạng xã Nhân khẩu học, động lực, hành cộng sự, hội; Sự tương tác cá nhân vi, cảm xúc và phúc lợi liên (2013) quan đến FOMO. và MEV Động cơ học tập; Tương FOMO (Fear of Missing Out) là cộng sự tác trên mạng xã hội. một yếu tố trung gian trong mối (2015) quan hệ giữa mức độ tương tác trên mạng xã hội và các yếu tố thúc đẩy. và MEV Sự cần thiết của tính phổ Thanh thiếu niên có FOMO cao cộng sự biến; Nhu cầu được chấp sử dụng Facebook nhiều hơn và (2016) nhận; Sử dụng Facebook căng thẳng hơn khi họ không được nhiều người biết đến trên 19 các nền tảng mạng xã hội.
và MEV Sự lo lắng; trầm cảm; hệ FOMO và SNI làm trung gian cộng sự quả tiêu cực trong việc cho mối liên hệ cho các vấn đề (2017) sử dụng phương tiện rối loạn tâm lý và hậu quả tiêu truyền thông cực. Elhai, JD và IV Ảnh hưởng tâm lý tiêu FOMO có liên quan đến tính cộng sự. cực; mức độ nghiêm nghiêm trọng của việc sử dụng (2018) trọng trong sử dụng điện điện thoại thông minh mất kiểm thoại thông minh mất soát. kiểm soát Dhir, A.
và IV Trầm cảm; sự lo lắng; sự Sử dụng công cụ truyền thông cộng sự. mệt mỏi với SNS; sử trong trạng thái bị bắt buộc làm (2018) dụng SNS một cách bị ép trung gian giữa FOMO và sự buộc mệt mỏi trên mạng xã hội. Chai, HY và MOV sử dụng SNS; quá tải FOMO là trung gian trong mối cộng sự. thông tin xã hội; hạnh quan hệ giữa việc sử dụng SNS (2019) phúc chủ quan và sức khỏe chủ quan Holte, AJ và DV Sự lo lắng; xu hướng Xu hướng buồn chán làm trung cộng sự.
buồn chán; trầm cảm; tập gian cho mối quan hệ của (2020) tin đính kèm lo lắng FOMO với sự lo lắng và trầm cảm. Roberts, JA IV Cường độ truyền thông FOMO tác động đến sức khỏe và cộng sự. xã hội; Kết nối cộng chủ quan thông qua tác động (2020) đồng; tâm lý lành mạnh của nó đối với cường độ truyền thông xã hội và kết nối xã hội. MEV Tự kiêu; bệnh tâm thần; FOMO làm trung gian một phần và cộng sự.
thủ đoạn nham hiểm; sử cho mối liên hệ giữa lòng tự ái (2021) dụng điện thoại thông và việc sử dụng điện thoại minh mất kiểm soát thông minh mất kiểm soát. Các yếu tố ảnh hưởng đến FOMO Các nghiên cứu trước đây đã mô tả hiện tưởng quá tải dưới hai khía cạnh khác nhau đó là khách quan và chủ quan. Từ khía cạnh chủ quan, quá tải đề cập đến sự đánh giá và nhận thức của cá nhân về số lượng đồ vật hoặc con người vượt quá khả năng xử lý của họ (Saegert, 1973). Các nhà nghiên cứu đã sử dụng khái niệm này để mô tả nhận thức về những điều vượt quá khả năng xử lý của cá nhân trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu khác nhau, chẳng hạn như “quá tải thông tin” (Jacoby và cộng sự, 1974, O'Reilly 1980, Chen và cộng sự, 2009) , “quá tải kiến thức” (Hunt và Newman, 1997), “quá tải công việc” (Yano và Rachamadugu, 1991), và “quá tải truyền thông” (Meier, 1963).
Các nghiên cứu trước đây đã gợi ý rằng, với luồng thông tin mới liên tục đổ về khiến cho người dùng mạng xã hội xuất hiện hiện tượng quá tải thông tin (Cao và Sun, 2018; Gezgin và cộng sự, 2017). Theo các tác giả, xung đột này xuất phát từ tình trạng quá tải của nhân viên do việc họ sử dụng mạng xã hội cho các hoạt động xã hội và liên quan đến công việc. Quá tải đề cập đến đánh giá chủ quan của một cá nhân về một tình trạng trong đó số lượng nhiệm vụ hoặc yêu cầu vượt quá khả năng của cá nhân đó, khiến người đó không thể xử lý các yêu cầu hoặc thông tin bổ sung (Karr-Wisniewski và Lu, 2010; Lee và cộng sự, 2016a; Lee và cộng sự, 2016b). Để nghiên cứu về tác động trung gian đến FOMO, khái niệm về sự quá tải cũng có thể được mở rộng để hiểu rõ hơn về tình trạng quá tải thông tin và quá tải truyền thông.
Quá tải về thông tin.