Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về sự tham gia thảo luận của công chúng trên báo điện tử và mạng xã hội Chương 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tham gia thảo luận của công chúng trên báo điện tử và mạng xã hội Chương 3. Thực trạng sự tham gia thảo luận của công chúng trên báo điện tử và mạng xã hội qua nghiên cứu trường hợp Chương 4.
Thực trạng sự tham gia thảo luận của công chúng trên báo điện tử và mạng xã hội qua điều tra xã hội học Chương 5. Vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng tham gia thảo luận của công chúng trên báo điện tử và mạng xã hội ở Việt Nam 19 Chƣơng 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ SỰ THAM GIA THẢO LUẬN CỦA CÔNG CHÚNG TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ VÀ MẠNG XÃ HỘI Trong chương này, tác giả luận án sẽ tìm hiểu vấn đề liên quan đến sự tham gia thảo luận của công chúng từ các góc độ chuyên ngành báo chí truyền thông và liên ngành chính trị học, triết học, tâm lý, văn hóa, xã hội học, quản lý xã hội… qua các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam. Trong đó, luận án xem xét về nội dung, phương pháp nghiên cứu, các kết quả nghiên cứu đáng chú ý trong các công trình trước đây để đánh giá những vấn đề liên quan đến đề tài luận án.
Từ đó, luận án phân tích và chỉ rõ những khoảng trống nghiên cứu, cơ sở lý luận và kết quả có thể kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu đã có. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1. Nhóm công trình nghiên cứu về công chúng Nhóm công trình đã xuất bản này tập trung nghiên cứu những lý luận cơ bản về công chúng như hệ thống khái niệm, vị trí, vai trò, cơ chế truyền thông tác động đến họ, năng lực tham gia của công chúng trong hoạt động báo chí truyền thông cũng như phương pháp nghiên cứu công chúng. - Tiếp cận từ góc độ báo chí học, truyền thông đại chúng: Trên thế giới, nhiều quan điểm khác nhau chia thành các giai đoạn nghiên cứu về công chúng truyền thông xuất hiện.
Nghiên cứu của các học giả trên thế giới cho thấy tiến trình này chia làm 4 giai đoạn: + Giai đoạn 1: Bắt đầu từ đầu thập kỷ XX năm 1910 cho tới cuối thập niên 30, M. Weber đã chỉ ra mục tiêu của báo chí truyền thông hướng tới ―các tập đoàn, tầng lớp xã hội khác nhau; phân tích yêu cầu xã hội đối với nhà báo, coi trọng phương pháp phân tích báo chí, phân tích hiệu quả của báo chí đối với việc xây dựng con người. Quan điểm của ông cho thấy báo chí ảnh hưởng to lớn đến sự hình thành ý thức quần chúng, hoạt động dựa trên các nhu cầu của công chúng và xã hội. Tuy nhiên trong giai đoạn này, các công trình nghiên cứu cho rằng công chúng truyền thông ở vị thế tiếp nhận một cách thụ động.
Công trình của Lasswell [72] với ―Mô hình kim tiêm‖ (hypodermic needle model) cho rằng người xem thụ động và bị ảnh 20 hưởng trực tiếp bởi các phương tiện truyền thông. Như vậy, thông điệp đã được truyền thẳng vào người xem và thâm nhập vào tâm trí của họ giống như một viên đạn ma thuật, tạo ra các phản ứng giống nhau ở mọi người. Năm 1948, Lasswell [73] tập trung vào phân tích năm yếu tố cơ bản trong truyền thông gồm: nguồn, thông điệp, kênh, người nhận và hiệu quả. + Giai đoạn 2: Từ khoảng năm 1940 – 1960, giai đoạn này bắt đầu xuất hiện quan điểm nhìn nhận vai trò tham gia của công chúng truyền thông theo các nhóm xã hội chủ động hơn.
Các công trình nghiên cứu mô hình truyền thông dòng chảy hai bước (Two-step flow of communication) của các nhà nghiên cứu xã hội người Mỹ Paul Lazarsfeld cùng các đồng nghiệp Berelson, Gaudet [76] xây dựng vào năm 1948 trong cuốn sách ―The people’s choice: How the voter makes up his mind in a presidential campaign‖. Nội dung công trình đã chứng minh công chúng chịu ảnh hưởng gián tiếp thông qua những ý kiến, quan điểm của những người có uy tín trong các nhóm xã hội của họ (những người dẫn dắt dư luận – KOL), đã làm thay đổi quyết định, thái độ của cử tri trong bầu cử tổng thống Mỹ năm 1940. Nghiên cứu của Katz và Lazarsfeld chỉ ra mối liên hệ cá nhân dường như đã thường xuyên và hiệu quả hơn các phương tiện truyền thông đại chúng (TTĐC) và khẳng định tầm quan trọng của KOL trong mạng lưới đến sự hình thành chính kiến cá nhân. Lý thuyết dòng chảy hai bước gợi mở quan trọng cho tác giả luận án phân tích hiệu ứng truyền thông và nghiên cứu công chúng mang tính cấu trúc, nhìn nhận vị trí vai trò của công chúng đối với mạng lưới truyền thông của BĐT và MXH.
+ Giai đoạn 3: Từ thập niên 70 đến cuối thế kỷ XX, các nhà nghiên cứu đề cập tới khái niệm ―phi đại chúng hóa‖ và vấn đề ―giải đại chúng‖, thông tin được chuyên biệt phục vụ cho từng nhóm công chúng nhỏ. Tiêu biểu của hướng nghiên cứu công chúng này là nhà xã hội học người Mỹ Alvin Toffler với tác phẩm Làn sóng thứ ba [101]. Alvin Toffler dự báo về việc truyền thông sẽ bị chia nhỏ và bị phi đại chúng hóa. Khán giả đại chúng không còn tiếp nhận những thông tin như nhau mà chia thành các nhóm nhỏ với những nhu cầu thông tin khác nhau.
Do vậy truyền thông cần ―giải đại chúng‖ tức phải thay đổi hình thức truyền thông, hướng tới tạo ra các nội dung thông tin chuyên biệt dành cho từng nhóm công chúng nhỏ, đáp ứng các nhu cầu riêng và ngày càng đa dạng đó. 21 Cũng trong giai đoạn này, nghiên cứu công chúng truyền thông được tiếp cận dưới góc độ mới từ hai nhà nghiên cứu nổi tiếng người Pháp là Philippe Breton và Serge Proulx. Trong cuốn sách ―Bùng nổ truyền thông – sự ra đời một ý thức hệ mới‖ vào năm 1996, các tác giả đã phân tích vai trò chủ động của một số công chúng tích cực trong quá trình giải mã các thông điệp trên TTĐC, đồng thời gợi ý xu hướng truyền thông đa chiều quan tâm tới từng nhóm đối tượng công chúng [109]. Đồng thời, nghiên cứu về mô hình truyền thông tương tác hai chiều của Shannon và Weaver, nghiên cứu công chúng truyền thông của học giả Stuart Hall [96, 60] đã được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau.
Nội dung công trình của Stuart Hall đã nổi bật về mô hình mã hóa/giải mã trong việc sản xuất và tiếp nhận thông điệp của các bên tham gia/ tác nhân trong quá trình truyền thông, hướng tới phân tích nội dung thông điệp, hiện tượng tiếp nhận, giải mã thông điệp theo nhiều cách khác nhau của công chúng dựa trên nền tảng văn hóa và khung nhận thức. Denis MacQuail (Đại học Armsterdam Hà Lan) là người có nhiều công trình nghiên cứu có giá trị về truyền thông, có liên quan trực tiếp đến nghiên cứu công chúng trong mối liên hệ với TTĐC. Công trình Các mô hình truyền thông (Communication Models) năm 1982 của Denis McQuail và Sven Windahl [85] đã chỉ ra các mô hình truyền thông cơ bản, hệ thống lý thuyết về phương tiện truyền thông và mô hình công chúng – đối tượng. Sau đó, năm 1992, các lý thuyết mới được mở rộng và ứng dụng nhiều hơn trong công trình Hiệu suất truyền thông (Media Rerformance).
Đặc biệt McQuail đã chỉ ra những lợi ích và thách thức TTĐC mang đến cho công chúng. Năm 1994, Mc Quail thảo luận chi tiết hơn về vai trò quan trọng của công chúng và dự đoán “nhận thức của công chúng sẽ ít bị ảnh hưởng bởi các phương tiện truyền thông” trong tương lai. Một công trình nữa của McQuail được nghiên cứu và vận dụng trong luận án là Lý thuyết truyền thông đại chúng (Mass Communication Theory) (1994) [86]. Mc Quail đã cập nhật các nghiên cứu mới về truyền thông như khái niệm đại chúng, văn hóa đại chúng, bốn mô hình truyền thông, độc/ khán/ thính giả (audience) – công chúng truyền thông, công chúng đại trà/ khán giả đại chúng (mass audience), hiệu quả truyền thông, cấu trúc công chúng (audience structure), các loại công chúng (types of audience), quy mô công chúng truyền thông… Với công trình phân tích 22 công chúng (Audience Analysis) năm 1997 [87], Mac Quail đã mang đến cái nhìn tổng quan về nghiên cứu công chúng truyền thông trong quá khứ và gợi mở hướng nghiên cứu công chúng cho hiện tại và tương lai.
Đặc biệt, năm 2013, Mc Quail [84] đã đề cập đến sự thay đổi đã tác động mạnh mẽ đến xu hướng nghiên cứu về đối tượng truyền thông, lấy khán giả làm trung tâm. Truyền thông không phải được hình thành như chuyển giao một gói thông tin giữa người gửi - người nhận. Mô hình truyền thông tuyến tính trước đây dần được thay thế bởi mô hình truyền thông mới kết nối mạng lưới các tác nhân. Khán giả với tư cách là người tham gia tương tác tích cực và thuyên chuyển thông tin theo nhiều cách khác nhau phù hợp với động cơ và sự lựa chọn của họ.
Luận án sẽ kế thừa cơ sở lý luận về truyền thông và công chúng của MC Quail như một gợi ý quan trọng để làm rõ cấu trúc, vai trò của công chúng trong quá trình truyền thông. + Giai đoạn 4: Từ năm 2000 đến nay, sự ra đời của internet và các thiết bị di động đã tác động mạnh mẽ, thay đổi cách trao - nhận và xử lý thông tin của công chúng cũng như trật tự thứ bậc, cách thức tổ chức, quản trị TTĐC. TTĐC trở thành không gian chung với sự tham gia tương tác của nhà truyền thông và công chúng vốn trước đây chỉ là đối tượng tiếp nhận thông tin. Jay Rosen trong nghiên cứu The People Fortunerly Known as the Audience (nghiên cứu báo chí Đại học New York 2006) [93] bàn về khái niệm truyền thông nhân dân (media people) cho thấy sự chủ động tham gia của công chúng trong sản xuất sản phẩm truyền thông, có quyền kiểm soát truyền thông.
Công chúng đang tạo ra một sự cân bằng quyền lực mới, giữa quyền lực của họ và quyền lực của báo chí. Tương lai, sẽ chỉ có báo chí chuyên nghiệp và nghiệp dư, được gọi chung là truyền thông công dân. Rosen cho rằng, thời đại toàn cầu hóa truyền thông, giúp công chúng chủ động tạo ra các sản phẩm báo chí nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân, bạn bè hoặc từng nhóm nhỏ (hoạt động với mục đích phi lợi nhuận).