Luận văn báo chí Quảng Trị truyền thông phòng chống Covid-19

Tìm hiểu vai trò của báo chí Quảng Trị trong công tác truyền thông phòng chống dịch bệnh, định hướng thông tin và nâng cao nhận thức cộng đồng.

Chuyên ngành

Báo chí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

149
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về báo chí quảng trị trong truyền thông phòng chống dịch bệnh

Báo chí quảng trị đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời, chính xác về dịch bệnh cho cộng đồng. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19, các cơ quan báo chí tại Quảng Trị đã chủ động triển khai nhiều hình thức truyền thông đa dạng như tin tức, phóng sự, chuyên mục tư vấn y tế. Nội dung truyền thông tập trung vào hướng dẫn phòng ngừa, cập nhật tình hình dịch bệnh, phản ánh hiệu quả công tác phòng chống dịch của chính quyền. Báo chí không chỉ truyền tải thông tin mà còn góp phần định hướng dư luận, nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc tuân thủ biện pháp phòng dịch. Sự phối hợp giữa báo chí địa phương với các cơ quan y tế đã tạo nên sức mạnh tổng hợp trong công tác truyền thông phòng chống dịch bệnh.

1.1. Vai trò của báo chí trong phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm

Báo chí là kênh thông tin chủ lực trong việc phổ biến kiến thức phòng chống dịch bệnh đến mọi tầng lớp nhân dân. Thông qua các bài viết chuyên sâu, phóng sự điều tra, báo chí giúp người dân hiểu rõ về tác nhân gây bệnh, triệu chứng nhận biết và biện pháp phòng ngừa hiệu quả. Đặc biệt, trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát, báo chí cung cấp thông tin cập nhật liên tục về tình hình dịch tễ, hướng dẫn cách ly, xét nghiệm và điều trị, giúp người dân chủ động phòng tránh. Ngoài ra, báo chí còn có vai trò giám sát hoạt động của cơ quan chức năng, phản ánh những khó khăn, vướng mắc trong công tác phòng chống dịch.

1.2. Đặc điểm truyền thông phòng chống dịch bệnh tại Quảng Trị

Truyền thông phòng chống dịch bệnh tại Quảng Trị mang đặc trưng của địa phương có điều kiện kinh tế-xã hội đa dạng. Các cơ quan báo chí đã tận dụng lợi thế địa phương như hệ thống đài phát thanh, truyền hình, báo mạng để truyền tải thông điệp phòng dịch đến mọi đối tượng. Nội dung truyền thông thường được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu, phù hợp với trình độ nhận thức của người dân nông thôn và miền núi. Sự kết hợp giữa ngôn ngữ địa phương với thông tin khoa học đã tạo nên hiệu quả truyền thông cao, góp phần giảm thiểu sự hoang mang trong cộng đồng khi dịch bệnh xảy ra.

II. Những vấn đề tồn tại trong truyền thông phòng chống dịch bệnh của báo chí Quảng Trị

Tuy đạt được nhiều kết quả tích cực, báo chí Quảng Trị vẫn đối mặt với những thách thức trong truyền thông phòng chống dịch bệnh. Một trong những vấn đề chính là sự thiếu thống nhất trong thông điệp truyền thông giữa các cơ quan báo chí và cơ quan y tế. Điều này dẫn đến tình trạng người dân nhận được nhiều thông tin trái chiều, gây khó khăn trong việc lựa chọn biện pháp phòng ngừa phù hợp. Ngoài ra, việc cập nhật thông tin chậm trễ hoặc không đầy đủ về tiến độ tiêm vaccine và diễn biến dịch bệnh cũng ảnh hưởng đến niềm tin của cộng đồng. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt nguồn nhân lực có chuyên môn về y tế trong các tòa soạn cũng hạn chế chất lượng nội dung truyền thông.

2.1. Thiếu thống nhất trong thông điệp truyền thông

Việc thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan báo chí và cơ quan y tế dẫn đến sự không thống nhất trong thông điệp truyền thông. Một số cơ quan báo chí đưa tin theo cảm tính hoặc dựa trên nguồn tin không chính thức, gây hoang mang trong dư luận. Chẳng hạn, khi có thông tin về biến chủng mới, một số tờ báo đưa tin quá mức cảnh báo, trong khi cơ quan y tế lại khuyến cáo không nên quá lo lắng. Sự thiếu nhất quán này khiến người dân mất phương hướng trong việc thực hiện các biện pháp phòng ngừa.

2.2. Hạn chế về nguồn nhân lực và cơ sở vật chất

Các cơ quan báo chí tại Quảng Trị thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu hụt phóng viên có chuyên môn về y tế. Điều này dẫn đến việc nội dung truyền thông thiếu chính xác, thiếu chiều sâu phân tích. Ngoài ra, hệ thống cơ sở vật chất phục vụ công tác truyền thông, như trang thiết bị ghi hình, máy móc phục vụ sản xuất nội dung, còn hạn chế. Sự thiếu thốn về nguồn lực đã ảnh hưởng đến chất lượng và tốc độ cập nhật thông tin phòng chống dịch bệnh.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả truyền thông phòng chống dịch bệnh

Để nâng cao hiệu quả truyền thông phòng chống dịch bệnh, báo chí Quảng Trị cần tăng cường phối hợp với các cơ quan y tế trong việc xây dựng thông điệp thống nhất. Việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức y tế cho phóng viên là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng nội dung truyền thông. Bên cạnh đó, các cơ quan báo chí cần đầu tư vào công nghệ, ứng dụng các nền tảng truyền thông số để mở rộng phạm vi tiếp cận thông tin. Sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong truyền thông sẽ giúp người dân tiếp cận thông tin nhanh chóng, chính xác, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống dịch bệnh.

3.1. Tăng cường phối hợp giữa báo chí và cơ quan y tế

Việc thiết lập cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa báo chí và cơ quan y tế là giải pháp then chốt nhằm đảm bảo thông tin truyền tải đến cộng đồng là chính xác, thống nhất. Các cơ quan y tế cần cung cấp cho báo chí những thông tin cập nhật, chính thống về tình hình dịch bệnh, hướng dẫn phòng ngừa. Đồng thời, báo chí cần tham khảo ý kiến chuyên gia y tế trước khi đăng tải bất kỳ thông tin quan trọng nào. Sự phối hợp này sẽ giúp giảm thiểu tình trạng đưa tin sai lệch, gây hoang mang trong cộng đồng.

3.2. Đào tạo phóng viên chuyên ngành y tế

Việc đào tạo phóng viên có chuyên môn về y tế sẽ giúp nâng cao chất lượng nội dung truyền thông phòng chống dịch bệnh. Các khóa đào tạo cần tập trung vào kiến thức cơ bản về dịch tễ học, triệu chứng bệnh, biện pháp phòng ngừa. Ngoài ra, phóng viên cần được trang bị kỹ năng phân tích, đánh giá thông tin khoa học để tránh đưa tin theo cảm tính. Sự chuyên nghiệp của phóng viên sẽ góp phần xây dựng niềm tin của cộng đồng vào thông tin do báo chí cung cấp.

IV. Kết luận và khuyến nghị cho báo chí Quảng Trị trong phòng chống dịch bệnh

Báo chí Quảng Trị đã đóng góp quan trọng trong công tác truyền thông phòng chống dịch bệnh, đặc biệt là trong giai đoạn Covid-19. Tuy nhiên, những tồn tại như thiếu thống nhất thông điệp, hạn chế về nguồn nhân lực vẫn cần được khắc phục. Để nâng cao hiệu quả truyền thông, báo chí cần tăng cường phối hợp với cơ quan y tế, đầu tư vào đào tạo phóng viên và ứng dụng công nghệ số. Việc xây dựng hệ thống thông tin phòng chống dịch bệnh hiệu quả sẽ góp phần bảo vệ sức khỏe cộng đồng, đồng thời nâng cao vị thế của báo chí địa phương trong lĩnh vực truyền thông y tế.

4.1. Tầm quan trọng của báo chí trong công tác phòng chống dịch bệnh

Báo chí là cầu nối quan trọng giữa cơ quan chức năng và cộng đồng trong công tác phòng chống dịch bệnh. Thông qua truyền thông, báo chí không chỉ cung cấp thông tin mà còn định hướng hành động cho người dân. Sự chủ động, kịp thời trong đưa tin của báo chí giúp cộng đồng nắm bắt tình hình, chủ động phòng ngừa. Ngoài ra, báo chí còn có vai trò giám sát hoạt động của chính quyền, đảm bảo minh bạch trong công tác phòng chống dịch.

4.2. Định hướng phát triển báo chí Quảng Trị trong tương lai

Trong tương lai, báo chí Quảng Trị cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng nội dung truyền thông phòng chống dịch bệnh. Điều này bao gồm việc đào tạo phóng viên chuyên ngành y tế, ứng dụng công nghệ số để mở rộng phạm vi tiếp cận. Bên cạnh đó, báo chí cần xây dựng hệ thống thông tin phòng chống dịch bệnh liên tục, cập nhật. Sự chuyên nghiệp, chính xác trong đưa tin sẽ góp phần nâng cao niềm tin của cộng đồng vào báo chí địa phương.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN BÁO CHÍ THAM GIA PHÒNG, CHỐNG DỊCH BỆNH 1. Cơ sở lý luận báo chí tham gia phòng, chống dịch bệnh 1. Những khái niệm cơ bản của luận văn 1. Truyền thông Truyền thông là hiện tượng xã hội ra đời và phát triển cùng với quá trình hình thành và phát triển xã hội loài người.

Nó là sản phẩm của xã hội người, là yếu tố kết nối và là động lực kích thích sự phát triển của xã hội loài người; đồng thời là tiêu chí đánh giá trình độ phát triển; chỉ báo thể hiện diện mạo văn hóa mỗi con người, nhóm người, cộng đồng người và mỗi quốc gia. Quá trình phát triển của xã hội loài người cũng là quá trình tìm kiếm, sáng tạo ra những công cụ, hình thức, phương thức nhất là phương tiện kỹ thuật và công nghệ truyền thông. Do đó hiện tượng này có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau, tùy theo góc nhìn đối với truyền thông. Theo PGS,TS.

Tạ Ngọc Tấn, ông đưa ra khái niệm truyền thông như sau: “Truyền thông là sự trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm đạt được sự hiểu biết lẫn nhau”.8] Trong giáo trình “Lý thuyết truyền thông và vận động” của PGS.TS Lương Khắc Hiếu đưa ra khái niệm truyền thông như sau: “Truyền thông là quá trình giáo tiếp, chia sẻ, trao đổi thông tin giữa các cá nhân hay các nhóm người nhằm đạt được sự hiểu biết, nâng cao nhận thức, hình thành thái độ và thay đổi hành vi của con người”.4] Trong cuốn “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của tác giả Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang cho rằng: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức”.13] 10 Theo cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” của PGS,TS. Nguyễn Văn Dững chỉ dẫn về phương pháp luận khi tìm hiểu khái niệm báo chí và liên quan đến báo chí- truyền thông nói riêng và các phạm trù khái niệm trong khoa học xã hội nói chung, tác giả đã đưa ra định nghĩa chung nhất về truyền thông như sau:“Truyền thông là quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cảm…, chia sẻ các kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, của nhóm hoặc của cộng đồng xã hội nói chung, bảo đảm sự phát triển bền vững.15] Cũng theo cuốn “Lý thuyết truyền thông” của PGS.TS Nguyễn Văn Dững khi nghiên cứu có nhiều mô hình truyền thông khác nhau. Trong đó mô hình truyền thông một chiều Lasswell đưa ra từ năm 1948, là mô hình được nhắc đến nhiều nhất. [5; 14] Mô hình truyền thông của Lasswell được biểu diễn theo trình tự sau: Nguồn phát Thông điệp Kênh Tiếp nhận Hình 1.

Mô hình truyền thông một chiều của Lasswell Mô hình truyền thông một chiều của Lasswell gồm các yếu tố: Nguồn phát (từ ai?): Người gửi hay nguồn gốc thông điệp. Thông điệp (nói gì?): Ý kiến, cảm xúc, suy nghĩ hay thái độ… được truyền đi. Kênh (bằng kênh nào?): Phương tiện mà nhờ đó thông điệp được truyền đi từ nguồn đến người nhận. Người nhận (đến ai?): Là một người hay nhóm người mà thông điệp hướng tới.

Mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon được đưa ra năm 1949. Mô hình này đã khắc phục được nhược điểm của mô hình truyền thông 11 một chiều bằng cách nhấn mạnh vai trò của thông tin phản hồi. Mặt khác, mô hình này cũng chú ý đến hiệu quả của truyền thông. Mô hình truyền thông hai chiều của Claude Shannon Theo C.Shannon thông tin bắt nguồn từ nguồn phát (S) thông qua các kênh truyền thông đến với người nhận (R) rồi thu được hiệu quả (E).

Các yếu tố trong mô hình truyền thông hai chiều gồm: S - (Source, sender): Nguồn phát, chủ đề truyền thông. M - (Message): Thông điệp, nội dung truyền thông. C - (Channel): Kênh truyền thông. E - (Effect): Hiệu quả truyền thông.

Trong các chương trình/chiến dịch hoạt động truyền thông có tính chuyên nghiệp và phổ biến nhất vẫn là thông tin - giáo dục - truyền thông… Ở đây tác giả đã giải thích và khát quát rõ hơn về thông tin - giáo dục- truyền thông như sau: thông tin (cung cấp những thông tin cơ bản, bao gồm các kiến thức nền tảng và các kỹ năng cần thiết, những thông tin cập nhật. về vấn đề cần truyền thông), giáo dục (không chỉ hướng vào các đối tượng đang cần những thông tin này mà còn cả những người cần đến trong tương lai, nhằm 12 tạo nên sự thông hiểu) và truyền thông (chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức nhằm thúc đẩy những thay đổi trong thái độ và hành vi) [6, tr.21] Trong cuốn “Tài liệu đào tạo kỹ năng truyền thông giáo dục sức khỏe trực tiếp” (Tài liệu dùng cho cán bộ y tế tuyến cơ sở) của Nhà xuất bản Y học, năm 2019 khái niệm truyền thông thay đổi hành vi là quá trình truyền thông nhằm mục đích đạt được sự thay đổi hành vi bền vững của đối tượng đích thông qua nâng cao nhận thức, giáo dục nâng cao kỹ năng và tạo môi trường hỗ trợ thay đổi hành vi cho đối tượng đích.18] Như vậy, có thể hiểu truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi thông tin giữa hai hoặc nhiều người nhằm tạo ra sự hiểu biết lẫn nhau tiến tới thay đổi nhận thức và hành vi. Quá trình truyền thông bao gồm các yếu tố như: nguồn, thông điệp, kênh truyền thông, người nhận, phản hồi (hiệu quả) và nhiễu. Tùy thuộc vào các tiêu chí khác nhau như: tính chủ đích, kênh chuyển tải hay phạm vi tham gia của truyền thông để có thể phân loại truyền thông.

Báo chí Báo chí là một hiện tượng xã hội phổ biến, phát triển từng ngày và tác động, chi phối đến mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Nhưng cho đến nay, chưa có sự thống nhất ở mức độ tương đối về khái niệm báo chí, và cũng có rất nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về báo chí. Theo cuốn “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông” của tác giả Xuân Sơn, Đinh Văn Hường, Trần Quang (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội) thì: Báo chí là loại hình hoạt động thông tin - chính trị - xã hội. Để xã hội loài người tồn tại và phát triển, con người cần nhiều loại hoạt động như sản xuất của cải vật chất để duy trì sự sống, sáng tạo nghệ thuật để thỏa mãn như cầu tinh thần… Một phần của sự hoạt động đó là hoạt động báo chí nhằm cung cấp cho công chúng những thông tin, tức là thông báo cho công chúng biết mọi sự kiện, hiện tượng diễn ra hằng ngày trong đời sống xã hội.

Nghĩa là những thông tin 13 báo chí bao giờ cũng chứa đựng giá trị xã hội hoặc chính trị và nó khác với những thông tin giao tiếp cá nhân. Còn theo Luật Báo chí số: 103/2016/QH13, ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Quốc hội thì “Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vấn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử”. Nghị quyết Trung ương 5 (Khóa X) về công tác tư tưởng, lý luận, báo chí trước yêu cầu đổi mới, nhấn mạnh hơn: “Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị - xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật; phải bảo đảm tính tư tưởng, tính chân thật, tính nhân dân, tính chiến đấu và tính đa dạng của hoạt động báo chí”. [10] Theo cuốn “Cơ sở lý luận báo chí” của PGS.TS Nguyễn Văn Dững: tác giả phân tích sâu hơn về một số quan niệm báo chí.

Quan niệm về dân gian, tác giả cho rằng: Báo chí được hiểu là phương tiện thông báo, thông tin về những sự việc mới diễn ra hàng ngày cho nhiều người biết. Báo chí là phương tiện thông tin thời sự, phương tiện giao tiếp xã hội; là diễn đàn cung cấp, trao đổi và chia sẻ thông tin công khai. Ở gốc tiếp cận lý thuyết, báo chí được coi là những tư liệu sinh hoạt tin thần nhằm thông tin và nói rõ về những sự kiện thời sự đã và đang diễn ra cho một nhóm đối tượng nhất định, nhằm mục đích nhất định, xuất bản định kỳ và đều đặn. Tác giả cũng cho rằng trong quá trình phát triển, khái niệm báo chí được hiểu theo nghĩa rộng bao gồm báo in, phát thanh, truyền hình, báo mạng điện tử.

Khái niệm báo chí tiếp cận từ quan điểm hệ thống. (Hình 3) 14 Kênh Quyền chuyển tải Công lực chúng chính báo chí trị tối cao Sản phẩm báo chí Cơ Các quan tổ chức Nhà báo - chủ thể chủ kinh tế - trực tiếp quản xã hội Thực tiễn đời sống Hình 3: Sơ đồ mô phỏng khái niệm báo chí tiếp cận từ quan niệm hệ thống. Từ thực tiễn báo chí trong những thập niên gần đây, nhìn vào sơ đồ cấu trúc khái niệm báo chí, có thể nêu ra vài ý kiến sau đây: Báo chí là thiết chế xã hội đặc thù, là tiểu hệ thống gồm các loại hình đa dạng, phong phú (báo, tạp chí, đài phát thanh, truyền hình, các hãng thông tấn và dịch dịch vụ thông tin, các trung tâm đào tạo, cơ quan nghiên cứu, các trạm liên lạc mặt đất - vũ trụ…) Báo chí gồm chỉnh thể các hình thức hoạt động đồng bộ tạo nên hiệu quả của sự vận hành. Đó là hoạt động chính sách thông tin; quan hệ với các tổ chức xã hội; nghiên cứu khoa học, đào tạo; là hoạt động thu nhập và xử lý thông tin, sáng tạo tác hẩm đơn lẻ và sản phẩm hoàn chỉnh.

Báo chí bao gồm tổ hợp các kinh truyền tải thông tin, tạo cho công chúng khả năng lựa chọn và tiếp nhận sản phẩm báo chí mọi nơi mọi lúc, tác động vào các trực quan có thể. Cơ chế tác động và tiếp nhận cũng rất linh hoạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ