MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài: Chúng ta đang sông trong thời đại của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với sự phát triển nhanh như vũ bão của công nghệ, trong đó trí tuệ nhân tạo AI được xem như cốt lõi của cuộc thay đôi này (Rouhiainen, L. Tại Việt Nam, từ năm 2014, Chính phủ đã xác định AI là công nghệ mũi nhọn cần được triển khai nghiên cứu và cần được đưa vào danh mục ưu tiên đầu tư (Khoa học công nghệ Việt Nam, 2020). Trong lĩnh vực báo chí, van đề không phải là chúng ta liệu có sử dụng công nghệ, đặc biệt là AI hay không, ma là khi nào AI sẽ trở thành một phần gắn liền với hoạt động của tòa soạn.
Bởi lẽ, nhiều nghiên cứu và ứng dụng thực tế cho thấy AI có thể mang lại rất nhiều lợi ích để nâng cao chất lượng báo chí.1-3] Bằng những thuật toán phân tích người dùng (độc giả), trí tuệ nhân tạo sẽ giúp các phóng viên kết nối tốt hơn với độc giả băng cách theo dõi và phân tích hành vi của họ khi tiêu thụ các sản phẩm thông tin báo chí. Kết quả phân tích từ AI sẽ là gợi ý dé phóng viên xử lý tin, phỏng van, tập hop thông tin, viết nội dung chính theo kiêu nhằm đạt được tương tác cao nhất (Lê Quốc Minh, 2018). Trên thế giới, hàng loạt các kênh thông tin báo chí uy tín như: Reuters (Anh), Washington Post hay New York Times (Mỹ) đều đã sớm đưa AI vào đời sống báo chí dé phục vụ sự phát triển của báo chí. Theo VietnamPlus (2020), Ở Việt Nam, giữa tháng 11/2018, TTXVN đã giới thiệu chatbot đầu tiên tại Việt Nam, đánh dấu bước tiến mới trong việc ứng dụng cách mạng công nghiệp lần thứ tư trong lĩnh vực báo chí.
Chatbot tự động tương tác với độc giả, đề xuất nội dung theo nhu cầu của người đọc và có khả năng cá nhân hóa cao tùy theo lich sử trao đổi giữa người và may. Tổng biên tập Báo Nhân dân, ông Lê Quốc Minh có bài tham luận “Ứng dựng trí tuệ nhân tạo trong báo chí: Chờ đợi hay hành động?” tại Hội nghị bảo chí toàn quốc 2018 được tô chức ngày 28/12/2018. Trước đó, Tọa đàm với chủ đề “Làm báo trong xu thé cách mang công nghiệp 4.0” đã được tô chức vào tháng 3/2018 và tiếp đó, tại budi trao đổi với chuyên đề “Tri tué nhân tạo và bdo chi” được tổ chức vào tháng 6/2018, chuyên gia công nghệ Lê Công Thành, Công ty InFoRe Technology cũng đưa ra những nghiên cứu của mình về việc ứng dụng AI vào báo chí. Ngoài những ưu điểm và lợi ích mà ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào báo chí truyền thông đem lại thì các nhà nghiên cứu cũng có những lo ngại nhất định về vấn đề này.
Trí tuệ nhân tạo đặt ra những vấn đề về đạo đức. Nhà báo Paul Chadwick của The Guardian từng viết: “Những phần mềm có khả năng “tư duy’ đang ngày càng trở nên hữu ích, nhưng chưa chắc nó đã thu thập hoặc xử lý thông tin một cách có đạo đức.” Sự minh bạch về thông tin cũng là một vân đê cân được quan tâm trong kỷ nguyên của trí tuệ nhân tạo. Tại diễn đản “Báo chí và công nghệ” do Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức vào tháng 11/2019 tại Hà Nội, Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Nguyễn Mạnh Hùng khang định, công nghệ số sẽ anh hưởng đến báo chí trong một chặng đường dài. Phát biểu tại diễn đàn, Bộ trưởng Nguyễn Mạnh Hùng nhắn mạnh: Công nghệ số sẽ ảnh hưởng đến lĩnh vực báo chí nhiều nhất, công nghệ số có thé tạo lên Big Bang ở lĩnh vực lĩnh vực báo chí truyền thông.
Nhưng hiện nay báo chí đang là người đi sau về công nghệ. Trước những thách thức khác nhau của nhu cầu đổi mới công nghệ, nhiều co quan báo chí đã lỗi hẹn hoặc đã bỏ cuộc hoặc chưa từng bắt đầu. Những chỉ đạo trên của Chính phủ, Bộ Thông tin và Truyền thông đã tạo những cơ hội dé báo chí Việt Nam nói chung và các tòa soạn báo Việt Nam thúc day hơn nữa việc nghiên cứu và đưa AI vào ứng dung trong các hoạt động sản xuất thông tin báo chí trong đó là sản xuất thông tin giải trí và chỉ dan của báo chí Trí tuệ nhân tạo (AI) đem lại nhiều ưu điểm, lợi ích trong việc sản xuất báo chí, tuy nhiên không phải tòa soạn nào, người làm báo cũng có thể hiểu hết về nó dé biến nó thành công cụ hỗ trợ chúng ta sản xuất những tác phẩm báo chí chất lượng. Kê cả khi đã ứng dụng AI vao sản xuất tin tức báo chí thì làm thé nào dé không rơi vào “cái bay công nghệ” — đạo đức và minh bach thông tin.
Nghiên cứu đề bước đầu hình thành khung lý luận và cái nhìn tổng quát về việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) vào sản xuất báo chí là một việc làm cần thiết. Nhất là việc ứng dụng AI đề phân tích hành vi người dùng (độc giả) dang được các tòa soạn quan tâm nhưng chưa có một đánh giá tong quan về việc nay tai Việt Nam. Vi thé, tac gia lua chon dé tai “Ung dung Trí tuệ nhân tao trong san xuất thông tin giải trí chỉ dẫn của báo chí” làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Báo chí học tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Lịch sử nghiên cứu van đề 2.1 Lich sử Trí tuệ nhân tao Cụm từ “Trí tuệ nhân tạo” ra đời vào những năm 1950 khi nghiên cứu ban đầu về khoa học tính toán khám phá các phương pháp tự động hóa đơn giản.
Thông qua nghiên cứu này, các nhà khoa học máy tính bắt đầu học cách đào tạo máy tính để bắt chước một số hình thức lý luận của con người, cho phép máy tính và máy móc của chúng ta trở thành những người bạn đồng hành thông minh mà chúng ta biết và hiểu ngày nay. Vào thời điểm này, Mỹ là nước tiên phong trong việc nghiên cứu và sản xuất máy tinh dé phục vụ nhu cầu con người. Các lý luận cơ bản của con người cũng được nghiên cứu, áp dụng với hệ thống máy tính. Điển hình là các nghiên cứu về các dự án lập bản đồ đường phó, hay lập trình nên các trợ lý thông minh,.
Các nghiên cứu này đã mở đường cho tự động hóa của hệ thống máy tính ngày nay. Cho đến hiện tại, công việc này vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu, cải tiên với trình độ cao hơn. Những năm đầu thập kỷ 80 của thé kỷ trước đã chứng kiến sự bắt đầu của một giai đoạn quãng 15 năm của sự hồi sinh, bùng nồ và thi đua quốc tế trong ngành TTNT. Ý tưởng co ban dé phát triển TTNT khi này là sự thông minh của máy tính không thể chỉ dựa trên việc suy diễn logic mà phải dựa cả vào tri thức con người, và dùng kha năng suy diễn của máy dé khai thác các tri thức này.
Cốt lõi của TTNT có thể diễn giải bởi công thức: TTNT = Tri thức + Suy diễn.32-33-34] Thanh quả và nỗ lực tiêu biểu trong giai đoạn này là sự phát triển của các hệ chuyên gia (expert systems). Mỗi hệ chuyên gia về cơ bản gồm hai thành phần: một cơ sở tri thức chứa các tri thức của chuyên gia trong một lĩnh vực và một cơ chế suy diễn logic nhằm vận dụng các hiểu biết này để giải quyết các vấn đề cụ thể, với hiệu quả như chính các chuyên gia giải quyết. Từ quãng những năm đầu của thập kỷ 90, khái niệm hệ chuyên gia được nhìn rộng hơn thành khái niệm các hệ dựa trên tri thức (knowledge-based systems) theo nghĩa cơ sở tri thức không nhất thiết cần hạn chế với tri thức chuyên gia. Ý thức được vai trò của tri thức trong các hành vi thông minh của máy, con người lại phải đối mặt với bài toán làm sao có được tri thức để máy dùng.
Trở ngại này vốn luôn luôn là điểm ‘tac’ trong sự phát triển TINT. Quãng 15 năm này là thời phát triển sôi nổi nhiều nội dung của TTNT: về xử lý ngôn ngữ tự nhiên, như việc dịch các văn bản từ một ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác; về sự thăng hoa của các phương pháp mạng neuron, vốn ra đời từ 1957 dưới dạng các perceptron đơn giản nhưng bị hững hờ khi con người nhận ra các hạn chế của chúng; về tính toán tiễn hóa, tiêu biéu là các giải thuật di truyền; về các tác tử tự trị và thông minh, những thứ có vai trò rất lớn với TTNT trong những năm về sau,. Một chuyện đáng nhớ trong giai đoạn nay là cuộc thi đua quốc tế về Trí tuệ nhân tạo ở Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức. Không thé nói đến sự phát triển của bat cứ lĩnh vực nào trong Tin học và CNTT nếu không liên hệ với hai sự kiện “đôi doi’: một là sự ra đời của công nghệ vi mạch và máy vi tính vào cuối những năm 1970 và hai là sự ra đời của Internet và sự hòa nhập của CNTT và truyền thông (ICT) vào đầu những năm 1990.
Trong một chừng mực nào đấy, từ hơn mười năm qua có thể mở rộng công thức cơ bản của TTNT thành TTNT = Tri thức + Suy diễn + Môi trường. Ở đây “môi trường" là Internet, là các thiết bị liên lạc không dây, là các thiết bị tính toán và lưu trữ thông tin ngày càng nhỏ hơn và mạnh hơn. Tuy nhiên, từ khi ra đời cho đến giai đoạn phát triển, các nhà khoa học nghiên cứu trí tuệ nhân tạo chủ yếu về ứng dụng trong các lĩnh vực: Chăm sóc sức khỏe; Kinh doanh; Giáo dục; Tài chính; Pháp luật; Y tế; Sản xuất. và chưa thực sự có một công trình nghiên cứu sâu rộng vào về việc ứng dụng AI vào việc sản xuất thông tin báo chí.2 Lịch sử trí tuệ nhân tạo ứng dụng trong báo chí Kế thừa những thành tựu của AI trong khoa học máy tính, các hãng thông tan/truyén thông lớn trên thé giới đã có những nghiên cứu, thử nghiệm va ứng dụng AI vào báo chí nói chung và các hoạt động sản xuất thông tin giải trí chỉ dẫn báo chí nói riêng.
Thế giới Hiện tại đã có nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học, chuyên gia trên thế giới nghiên cứu về việc ứng dụng công nghệ, trong đó có trí tuệ nhân tạo vào báo chí. Tiêu biểu là các nghiên cứu của Nic Newman về anh hưởng của trí tuệ nhân tao (AJ) trong báo chí hiện tại và tương lai.