Chương 1: Trình bày những vấn đề cơ bản làm nền tảng cho động lực nghiên cứu của luận văn. • Chương 2: Trình bày các lý thuyết và khái niệm cơ bản của hệ thống MISO- IRS, về học sâu tăng cường và về giải thuật DDPG. • Chương 3: Giải quyết bài toán tối ưu tổng tốc độ dữ liệu trong hệ MISO-IRS bằng phương pháp giải toán tôi ưu truyền thống cũng như bằng phương pháp áp dụng giải thuật DDPG. • Chương 4: Trình bày quá trình mô phỏng, kết quả thu được cũng như nhận xét và đánh giá về hai phương pháp đã thực hiện ở chương 3.
• Chương 5: Tổng kết lại các vấn đề đã được đề cập trong luận văn và đề xuất các hướng phát triển cho luận văn. 10 Luận văn thạc sĩ Thực hiện: Trần Hữu Tuân CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT Chương này đề cập đến một số lý thuyết cơ bản để giải quyết các bài toán được đặt ra ở các chương sau. Cụ thể, Phần 2.1 mô tả các loại kênh truyền trong hệ thống viễn thông.
Tiếp theo, Phần 2.2 giới thiệu sơ lược về bề mặt phản xạ thông minh sau đó, Phần 2.3 trình bày các lý thuyết cơ bản về học sâu tăng cường và cuối cùng Phần 2.4 sẽ giới thiệu giải thuật Deep Deterministic Policy Gradient. Kênh truyền trong hệ thống viễn thông Kênh truyền giữa bên phát và bên thu được chia làm hai loại: line-of-sight (LoS) và non-line-of-sight (NLoS) [4]. Kênh truyền LoS là trường hợp khi bên phát và bên thu "thấy" nhau. Ngoài ra, giả định rằng ta đang ở trong một không gian tự do (free space), tức không có vật thể khác có thể phản xạ hay tán xạ lại tín hiệu.
Khi xét trường hợp MISO: bên phát gồm một anten truyền tín hiệu đến một dãy gồm M anten tuyến tính đồng nhất (uniform linear array, ULA), tức M anten thẳng hàng và hai anten kề nhau cách nhau một khoảng ∆ = 𝜆𝑑𝐻. Trong thực tế, thông thường khoảng cách giữa bên phát và bên thu lớn hơn nhiều so với kích thước của dãy anten (far-field), nên ta có thể xem khoảng cách từ bên phát đến mọi anten thu xấp xỉ bằng nhau. Tuy sóng phát ra lan truyền với dạng cầu, nhưng khi tiếp cận các anten thu, nó hầu như là phẳng. Những giả sử này cho phép ta tính độ lệch pha của tín hiệu khi đến các anten dễ dàng hơn.
Cụ thể, lấy anten đầu tiên làm chuẩn với góc tới 𝜑, độ lệch pha giữa nó và anten thứ m là 2𝜋 (𝑚 − 1) ∆ 𝑠𝑖𝑛(𝜑)/𝜆. Từ quan sát trên, ta dễ dàng tìm được vector kênh truyền LoS MISO 𝑔 ∈ ℂ𝑀×1 như sau: 𝑇 𝒈 = √𝛽[1𝑒 −𝑗2π𝑑𝐻 sin 𝜙 … 1𝑒 −𝑗2π𝑑𝐻 (𝑀−1) sin 𝜙 ] (2.1) trong đó 𝛽 là độ lợi kênh truyền [4]. 11 Luận văn thạc sĩ Thực hiện: Trần Hữu Tuân Kênh truyền NLoS, ngược lại, là trường hợp khi bên phát và bên thu không thấy nhau, tức không tồn tại đường truyền LoS. Tuy nhiên, môi trường truyền dẫn có rất nhiều vật thể có thể tán xạ lại tín hiệu và ta chỉ xét các tín hiệu được tán xạ một lần.
Xét trường hợp cả bên phát và bên thu chỉ có 1 anten. Giả sử tín hiệu từ bên phát đến bên thu theo L đường, mỗi đường có thể xem là LoS với quãng đường di , 𝑖 = 1,. Đáp ứng kênh truyền là tổng theo L đường này [4]: 𝐿 𝑑𝑖 −𝑑 𝒈 = ∑ √𝛼𝑖 𝑒 −𝑗2𝜋 𝜆 (2.2) 𝑖=1 Giả sử các độ lợi và độ dịch pha theo L đường này là các biến ngẫu nhiên độc lập và có phân bố giống nhau (independent and identically distributed, i.d) Khi L đủ lớn, theo định luật giới hạn trung tâm, 𝑔 sẽ có phân bố Gaussian [4]: 𝒈 ∼ 𝒞 𝒩 (0, 𝛽) (2.3) Mô hình này còn được gọi là Rayleigh fading bởi |𝑔| có phân bố Rayleigh và |𝑔|2 có phân bố mũ. Khái quát lên với trường hợp MISO khi bên phát có M anten ta có [4]: 𝒈 ∼ 𝒞 𝒩 (0, 𝛽Ι𝑀 ) (2.4) Trên thực tế, kênh truyền LoS và NLoS có thể cùng tồn tại giữa bên thu và bên phát, trong trường hợp đó ta có kênh truyền Rician và được biểu diễn như sau: 𝒦 1 𝐆= √ 𝐆𝑳𝒐𝑺 + √ 𝐆𝑵𝑳𝒐𝑺 (2.5) 1+𝒦 1+𝒦 trong đo 𝒦 được gọi là hệ số Rician [4].
Bề mặt phản xạ thông minh Massive MIMO là một công nghệ tiêu biểu của truyền thông không dây 5G. Với công nghệ này, các trạm gốc được trang bị một mảng gồm ít nhất 64 anten nhằm định 12 Luận văn thạc sĩ Thực hiện: Trần Hữu Tuân hướng chùm tia tín hiệu (beamforming) đến bất kì vị trí nào trong tế bào một cách chính xác và cho phép ghép kênh không gian (spatial multiplexing) giữa các thiết bị đầu cuối. Mặc dù giúp cải thiện đáng kể hiệu năng của hệ thống, Massive MIMO vẫn có một số nhược điểm lớn như chi phí phần cứng cao, tiêu hao nhiều năng lượng. Điều này càng thể hiện rõ khi Massive MIMO hoạt động ở băng mmWave hay terahertz, cần sự hỗ trợ của các chuỗi RF (radio frequency) và các tiến trình xử lý tín hiệu phức tạp.
Hơn nữa, việc có quá nhiều thành phần hoạt động như relay, remote radio head cũng gây ra can nhiễu trầm trọng [5]. Trong những nỗ lực tìm kiếm các phương pháp cải thiện hiệu suất phổ và năng lượng, đồng thời hạ thấp chi phí của hệ thống, trong thời gian gần đây, người ta đặc biệt chú ý đến bề mặt phản xạ thông minh (IRS). Về cơ bản, IRS là một bề mặt hai chiều gồm các phần tử thụ động, chi phí thấp có khả năng tạo ra một độ dịch pha trên sóng tới, từ đó thay đổi cách thức lan truyền của sóng phản xạ. Cần lưu ý rằng, IRS không phải là thành phần của bên phát hay bên thu, mà là một thành phần điều khiển được của môi trường truyền dẫn với nhiệm vụ duy nhất là phản xạ lại tín hiệu đến một cách "thụ động"; do đó công suất tiêu thụ của IRS là không đáng kể và có thể bỏ qua.
Hiện nay, việc sử dụng siêu vật liệu (metamaterial) để chế tạo IRS giúp điều chỉnh được độ dịch pha ngay trong thời gian thực. Hình 2-1: Minh họa cấu tạo một bề mặt phản xạ thông minh [6] 13 Luận văn thạc sĩ Thực hiện: Trần Hữu Tuân Về mặt cấu tạo, bề mặt phản xạ thông minh là một bề mặt 2 chiều, tập hợp một lượng lớn các phần tử phản xạ nữa bước sóng (sub-wavelength reflecting) – có thể hiểu chúng là các anten siêu nhỏ có hình dáng như các miếng chip. Mỗi phần tử phản xạ được kết nối với một chip có thể điều chỉnh để thay đổi trở kháng tải của nó như một varactor. Chúng ta có kiểm soát điện áp phân cực của các varactor dẫn đến trở kháng tải có thể điều chỉnh liên tục và tạo ra sự dịch chuyển pha liên tục.
Ngoài ra có thể mắc thêm biến trở để thay đổi biên độ hệ số phản xạ, từ đó, chúng ta dễ dàng kiểm soát hệ số phản xạ (gồm cả biên độ và pha) của từng phần tử phản xạ riêng lẻ. Hình 2-2: Cấu tạo vật lý của các phần tử phản xạ [6] Những đặc điểm riêng biệt này khiến cho truyền thông có sự hỗ trợ của RIS trở thành công nghệ độc đáo, khắc phục các điểm yếu còn tồn đọng của hệ thống thông tin liên lạc truyền thống. IRS có khả năng cung cấp các chức năng như: mở rộng vùng phủ sóng, khử nhiễu, đảm bảo độ tin cậy, tăng sự bảo mật, tối ưu hóa kênh truyền, nâng cao hiệu suất phổ, tiết kiệm năng lượng, đáp ứng các yêu cầu về tốc độ truyền dữ liệu của người dùng và chất lượng dịch vụ, góp phần nâng cao hiệu năng chung của toàn bộ hệ thống truyền thông không dây. Các kịch bản ứng dụng của RIS khá đa dạng, từ hệ thống Wi-Fi chia sẻ phương tiện đến vùng mmWave và THz, thậm chí cả truyền thông quang học, bao phủ dải tần băng thông rộng, v.v… 14 Luận văn thạc sĩ Thực hiện: Trần Hữu Tuân Xét ở điều kiện tổng quát một hệ thống MIMO có hỗ trợ bởi IRS được mô tả trong hình dưới: Hình 2-3: Minh họa hệ thống thông viễn thông có hỗ trợ của IRS Giả sử bên phát có 𝑁𝑡 anten, IRS có 𝑀 phần tử và bên thu có 𝑁𝑟 anten.
Gọi các kênh truyền từ bên phát đến IRS, IRS đến bên thu và bên phát đến bên thu lần lượt là 𝐅 ∈ ℂ𝑀×𝑁𝑡 , 𝐇𝐫 ∈ ℂ𝑁𝑟×𝑀 , 𝐇𝐝 ∈ ℂ𝑀×𝑁𝑟. , 𝑀 là độ dịch pha của phần tử thứ 𝑚 của IRS. Gọi x ∈ ℂ𝑁𝑡 ×1 là tín hiệu phát đi. Thế thì tín hiệu nhận được ở bên thu được biểu diễn như sau: y = (𝐇𝐝 + 𝐇𝐫 𝚯𝐅)x + n (2.6) trong đó n ∈ ℂ𝑁𝑟×1 là nhiễu bên thu.
Khi đó, với bài toán MISO đa người dùng ta có, 𝐇𝐫 và 𝐇𝐝 trở thành các vector 𝒉𝒓 ∈ ℂ𝑀 và 𝒉𝒅 ∈ ℂ𝑀 khi đó với người dùng thứ 𝑘 ta có: y𝑘 = (𝒉𝒅,𝒌 + 𝒉𝒓,𝒌 𝚯𝐅)x + 𝑛𝑘 (2.7) 15 Luận văn thạc sĩ Thực hiện: Trần Hữu Tuân M F hr,i Nt hd,i hr,j hd,j hr,k hd,k Hình 2-4: Minh họa một hệ thống MISO đa người dùng có hỗ trợ bởi IRS Ưu điểm mà các hệ thống IRS mang lại có thể được tóm gọn như sau: IRS gần như thụ động, lý tưởng là không cần sử dụng bất kỳ nguồn năng lượng nào hoặc được cấp nguồn không dây dựa trên năng lượng thu hoạch RF. IRS được xem như một bề mặt tiếp giáp, lý tưởng là bất kỳ điểm nào cũng có thể định hình sóng khi tác động lên nó bằng cách lập trình bằng phần mềm. IRS không bị ảnh hưởng bởi nhiễu máy thu, lý tưởng là không cần bộ chuyển đổi tương tự sang số ADC hay số sang tương tự DAC và bộ khuếch đại công suất. Do đó, IRS không tạo ra nhiễu khi phản xạ tín hiệu và cung cấp truyền dẫn song công.
IRS có đáp ứng toàn dải, lý tưởng là có thể hoạt động ở bất kỳ tần số hoạt động nào. IRS có thể được lắp đặt dễ dàng và hoạt động bền vững, chúng được làm từ các phần tử tán xạ thụ động chi phí thấp được nhúng trong siêu bề mặt, có thể ở bất kỳ hình dạng nào, do đó mang lại tính linh hoạt cao trong triển khai và thay thế. Ví dụ, trên mặt tiền của các tòa nhà, trần nhà của nhà máy và không gian trong nhà. 16 Luận văn thạc sĩ Thực hiện: Trần Hữu Tuân 2.
Học sâu tăng cường – Deep reinforcement learning 2. Tổng quát về học sâu tăng cường Trước tiên để hiểu khái niệm học sâu tăng cường (deep reinforcement learning) là gì ta cần đi qua khái niệm về học tăng cường – reinforcement learning.