Tổng quan nghiên cứu

Sự phát triển mạnh mẽ của năng lượng tái tạo trên phạm vi toàn cầu đã thúc đẩy quy mô công suất lắp đặt turbine gió tăng trưởng vượt bậc, từ 24 MW vào năm 2001 lên 240 MW vào năm 2011 và đạt xấp xỉ 800 MW vào giai đoạn năm 2020. Trong bức tranh công nghệ này, hệ thống máy phát không đồng bộ nguồn kép (DFIG) chiếm lĩnh gần 50% thị phần turbine gió thương mại nhờ ưu thế vượt trội về chi phí, khi bộ biến đổi công suất back-to-back chỉ cần định mức từ 25% đến 33% công suất danh định của máy phát. Tuy nhiên, khi bộ biến đổi phía rotor (RSC) vận hành ở chế độ nghịch lưu trong dải tốc độ dưới đồng bộ (dao động quanh mức ±33% tốc độ đồng bộ), kỹ thuật điều chế độ rộng xung (PWM) truyền thống tạo ra điện áp common-mode (CMV) có biên độ đỉnh lên tới ±Vdc/2 (tương đương ±200 V với cấp áp DC-link 400 V hoặc ±400 V với cấp áp DC-link 800 V).

Hiện tượng điện áp common-mode với độ biến thiên điện áp rất cao (dv/dt) là nguyên nhân trực tiếp kích hoạt điện áp cảm ứng trên trục máy, làm suy giảm lớp cách điện cuộn dây và gây ra các dòng điện ổ bi phá hủy bề mặt cơ khí. Mục tiêu nghiên cứu cốt lõi của luận văn là xây dựng và kiểm chứng giải thuật điều khiển điều chế độ rộng xung dựa trên sóng mang có hàm offset (RCMV CBPWM) nhằm giảm biên độ CMV xuống mức ±Vdc/6, tương ứng mức cắt giảm 66,67% biên độ điện áp common-mode. Phạm vi nghiên cứu được thực hiện thông qua mô hình động học DFIG ở hai mức công suất 15 kW và 250 kW tại các tần số sóng mang 2,5 kHz và 5 kHz. Đề tài mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc gia tăng độ tin cậy vận hành, kéo dài tuổi thọ ổ bi máy điện thêm ước tính khoảng 30% và tiết giảm đáng kể chi phí bảo dưỡng định kỳ cho các trang trại điện gió.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được thiết lập dựa trên ba trụ cột lý thuyết nền tảng trong lĩnh vực điều khiển truyền động điện và điện tử công suất:

  • Lý thuyết chuyển đổi hệ tọa độ và mô hình vector không gian: Áp dụng phép biến đổi Park và Clarke (abc/αβ và abc/dq) với hệ số tỷ lệ 2/3 để chuyển đổi các đại lượng điện áp, dòng điện, từ thông xoay chiều 3 pha lệch nhau 120 độ thành hai thành phần dòng một chiều trên trục dọc (d) và trục ngang (q) trong hệ quy chiếu quay đồng bộ với tần số góc stator.
  • Kỹ thuật điều khiển định hướng điện áp stator (SVOC): Bằng cách định hướng vector điện áp stator trùng với trục d, thành phần điện áp trên trục q bị triệt tiêu hoàn toàn về 0 V. Cấu trúc này cho phép phân tách và điều khiển độc lập công suất tác dụng và công suất phản kháng của stator thông qua việc hiệu chỉnh trực tiếp hai thành phần dòng điện rotor trên trục d và trục q qua các bộ điều khiển PI.
  • Lý thuyết điện áp common-mode và kỹ thuật RCMV CBPWM: Điện áp CMV trong bộ nghịch lưu nguồn áp 2 bậc 3 pha được xác định bằng trung bình cộng điện áp ba pha quy về điểm trung tính nguồn DC. Kỹ thuật đề xuất thay thế các vector zero (V0 và V7 gây ra đỉnh CMV bằng ±Vdc/2) bằng các cặp vector tích cực đối xứng (như V3 và V6) thông qua việc tổng hợp hàm offset tối ưu trong dải từ giá trị cực tiểu đến giá trị cực đại, đơn giản hóa cấu trúc tính toán so với kỹ thuật điều chế vector không gian 4 trạng thái (RCMV 4S SVM).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp mô hình hóa toán học kết hợp mô phỏng số trên phần mềm MATLAB/Simulink phiên bản R2016b với bộ công cụ SimPowerSystems. Cỡ mẫu khảo sát bao gồm 4 kịch bản vận hành toàn diện đại diện cho hai cấu hình công suất máy phát DFIG tiêu chuẩn: hệ thống 15 kW (điện áp DC-link 400 V) và hệ thống công nghiệp 250 kW (điện áp DC-link 800 V), được thử nghiệm chéo tại hai tần số sóng mang điều chế là 2,5 kHz và 5 kHz.

Phương pháp chọn mẫu dữ liệu tập trung vào trạng thái xác lập và đáp ứng quá độ khi thay đổi bước nhảy công suất tham chiếu trong chế độ vận hành dưới đồng bộ. Lý do lựa chọn phương pháp mô phỏng số kết hợp phân tích phổ biến đổi Fourier nhanh (FFT) là nhằm đo lường chính xác phổ sóng hài dòng điện lên đến bậc 50, kiểm soát độ méo dạng sóng hài tổng (THD) theo tiêu chuẩn IEEE-519, đồng thời đánh giá định lượng sự thay đổi của biên độ điện áp CMV mà không gây rủi ro phá hủy thiết bị cơ khí thực tế. Toàn bộ tiến trình nghiên cứu và thu thập dữ liệu được thực hiện chặt chẽ trong khung thời gian từ tháng 1 năm 2018 đến tháng 6 năm 2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích dữ liệu mô phỏng đã đem lại 4 phát hiện khoa học mang tính đột phá:

  • Giảm thiểu vượt bậc biên độ điện áp common-mode: Khi áp dụng giải thuật RCMV CBPWM, biên độ đỉnh CMV của hệ thống DFIG 15 kW giảm từ mức ±200 V (tương đương ±Vdc/2 trong SPWM truyền thống) xuống ổn định ở mức ±66,67 V (tức ±Vdc/6). Đối với hệ thống 250 kW ở điện áp DC-link 800 V, biên độ CMV giảm từ ±400 V xuống chỉ còn ±133,33 V, đạt tỷ lệ suy giảm chính xác 66,67%.
  • Triệt tiêu hoàn toàn trạng thái chuyển mạch biên độ lớn: Dạng sóng CMV không còn xuất hiện các xung đỉnh điện áp cao do vector zero gây ra, chuỗi chuyển mạch chỉ luân chuyển mượt mà giữa hai mức điện áp hẹp là +Vdc/6 và -Vdc/6, giúp triệt tiêu các gai nhọn phóng điện dv/dt.
  • Duy trì khả năng điều khiển bám công suất độc lập: Các kênh điều khiển công suất tác dụng và phản kháng phía stator đáp ứng chính xác theo giá trị đặt tham chiếu với thời gian quá độ dưới 0,05 giây, độ vọt lố được kiểm soát dưới 2% và hoàn toàn không bị ảnh hưởng tiêu cực bởi giải thuật offset PWM.
  • Đảm bảo chất lượng sóng hài dòng điện theo tiêu chuẩn: Phân tích FFT cho thấy độ méo dạng sóng hài tổng của dòng điện stator luôn duy trì dưới 3,5% ở tần số sóng mang 2,5 kHz và tiếp tục giảm xuống dưới 2,0% khi tăng tần số sóng mang lên 5 kHz, đáp ứng nghiêm ngặt các quy định nối lưới hiện hành.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi giúp giải thuật RCMV CBPWM đạt hiệu quả vượt trội nằm ở việc xây dựng hàm offset toán học để phân bổ lại thời gian đóng ngắt của các khóa bán dẫn nhánh trên (S1, S3, S5) và nhánh dưới (S4, S6, S2). Việc loại bỏ hoàn toàn thời gian thực thi của hai vector không V0(0,0,0) và V7(1,1,1) đã loại bỏ nguồn gốc tạo ra điện áp điểm trung tính cực đại.

Dữ liệu nghiên cứu được minh họa trực quan thông qua các biểu đồ miền thời gian so sánh dạng sóng CMV tức thời, cùng với bảng tổng hợp phân tích phổ FFT đối chiếu giữa các tần số sóng mang 2,5 kHz và 5 kHz. So với các công bố khoa học sử dụng cấu hình nghịch lưu NPC 3 bậc vốn đòi hỏi số lượng linh kiện tăng gấp 2 lần và thuật toán cân bằng điện áp tụ DC phức tạp, giải thuật CBPWM trên cấu hình 2 bậc trong luận văn mang lại hiệu năng giảm CMV tương đương nhưng giúp giảm trên 40% khối lượng tính toán của bộ xử lý số tín hiệu (DSP).

Đề xuất và khuyến nghị

  • Tích hợp giải thuật RCMV CBPWM vào bộ vi xử lý DSP: Các doanh nghiệp sản xuất tủ điều khiển điện gió cần nạp mã nguồn giải thuật sử dụng hàm offset trực tiếp lên vi điều khiển DSP chuyên dụng trong thời hạn 3 đến 6 tháng nhằm hạ biên độ CMV xuống 66,67% trên các tổ máy DFIG thương mại.
  • Tối ưu hóa tần số sóng mang đóng ngắt ở mức 5 kHz: Đội ngũ kỹ sư vận hành nhà máy điện gió nên thiết lập tần số sóng mang từ 2,5 kHz lên 5 kHz trong kế hoạch kỹ thuật 2 tháng để giảm THD dòng điện stator xuống dưới 2,0%, đồng thời giảm dung lượng và kích thước của bộ lọc thụ động khoảng 15%.
  • Lắp đặt hệ thống giám sát online dòng điện trục và điện áp ổ bi: Đơn vị quản lý vận hành cần trang bị cảm biến đo dòng rò cao tần với độ nhạy 0,1 A tại trục máy phát trong lộ trình 6 đến 9 tháng nhằm theo dõi liên tục ứng suất cách điện cơ khí.
  • Nâng cấp cấu trúc điều chế cho các bộ biến đổi đa bậc: Các viện nghiên cứu và phòng thí nghiệm chuyên ngành cần triển khai đề tài mở rộng thuật toán hàm offset cho mạch nghịch lưu 3 bậc và đa pha trong vòng 12 tháng nhằm hướng tới mục tiêu triệt tiêu hoàn toàn điện áp common-mode về 0 V.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Kỹ sư thiết kế hệ thống điện tử công suất: Tiếp cận chi tiết phương pháp xây dựng hàm offset và thuật toán PWM dựa trên sóng mang để lập trình điều khiển tối ưu cho các bộ nghịch lưu nguồn áp 2 bậc và 3 bậc.
  • Chuyên gia quản lý và bảo dưỡng trang trại điện gió: Ứng dụng các phân tích về cơ chế dòng điện ổ bi và ứng suất dv/dt để xây dựng quy trình bảo trì dự đoán, giảm thiểu nguy cơ dừng máy sự cố ở các turbine DFIG từ 1,5 MW đến 6 MW.
  • Học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành Kỹ thuật Điện: Sử dụng mô hình toán học DFIG trong hệ tọa độ dq và cấu trúc mô phỏng MATLAB/Simulink R2016b như một bộ khung chuẩn mực để phát triển các thuật toán điều khiển thích nghi, điều khiển dự báo.
  • Giảng viên các trường đại học khối kỹ thuật: Khai thác các phân tích lý thuyết biến đổi tọa độ, kỹ thuật SVOC và đồ thị vector không gian làm học liệu giảng dạy chuyên sâu cho học phần Điều khiển truyền động xoay chiều và Năng lượng tái tạo.

Câu hỏi thường gặp

Điện áp common-mode trong hệ thống DFIG sinh ra từ đâu và gây hại như thế nào?
Điện áp common-mode sinh ra do quá trình đóng cắt không đồng thời của các khóa bán dẫn bán dẫn IGBT trong bộ biến đổi nguồn áp phía rotor. Điện áp này tạo ra dòng điện rò, phá hủy bề mặt tiếp xúc cơ khí của ổ bi máy điện và làm suy giảm tuổi thọ lớp cách điện cuộn dây stator.

Giải thuật RCMV CBPWM giúp giảm biên độ CMV được bao nhiêu phần trăm?
Giải thuật đề xuất giúp giảm chính xác 66,67% biên độ đỉnh của điện áp common-mode, đưa giá trị cực đại từ ±Vdc/2 (±200 V hoặc ±400 V) xuống chỉ còn ±Vdc/6 (±66,67 V hoặc ±133,33 V) nhờ việc triệt tiêu sự xuất hiện của các vector điện áp zero.

Tại sao nghiên cứu lại chọn kỹ thuật CBPWM thay vì kỹ thuật SVM truyền thống?
Kỹ thuật điều chế dựa trên sóng mang có hàm offset mang lại khả năng thực thi thuật toán nhanh chóng, giảm đáng kể khối lượng tính toán cho vi xử lý DSP và dễ dàng mở rộng cho các hệ thống biến đổi công suất đa mức so với kỹ thuật không gian vector phức tạp.

Chất lượng dòng điện và sóng hài THD có bị ảnh hưởng khi áp dụng giải thuật giảm CMV không?
Chất lượng dòng điện vẫn được đảm bảo tối ưu với độ méo sóng hài tổng THD của dòng điện stator luôn duy trì dưới 3,5% ở tần số 2,5 kHz và giảm sâu dưới 2,0% ở tần số 5 kHz, hoàn toàn thỏa mãn các quy chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt của tiêu chuẩn IEEE-519.

Kỹ thuật điều khiển định hướng điện áp stator (SVOC) có vai trò gì trong hệ thống?
Kỹ thuật SVOC thực hiện việc định hướng vector điện áp stator theo trục d, giúp tách biệt hoàn toàn kênh điều khiển công suất tác dụng và công suất phản kháng thành hai bài toán điều khiển tuyến tính độc lập thông qua hai thành phần dòng điện rotor idr và iqr.

Kết luận

  • Làm rõ bản chất vật lý và cơ chế suy giảm tuổi thọ máy điện do điện áp common-mode gây ra trong bộ biến đổi phía rotor của hệ thống turbine gió DFIG.
  • Thiết lập hoàn chỉnh mô hình toán học DFIG trên hệ tọa độ quay đồng bộ dq kết hợp thuật toán điều khiển SVOC giúp điều khiển độc lập công suất tác dụng và phản kháng.
  • Đề xuất thành công giải thuật điều chế RCMV CBPWM sử dụng hàm offset, giúp cắt giảm 66,67% biên độ điện áp CMV từ ±Vdc/2 xuống ±Vdc/6.
  • Kiểm chứng định lượng độ tin cậy và tính ổn định của giải thuật qua 4 kịch bản mô phỏng trên MATLAB/Simulink R2016b ở các cấp công suất 15 kW và 250 kW.
  • Bảo đảm chất lượng điện năng cung cấp lên lưới điện với chỉ số sóng hài tổng THD dòng stator luôn đạt mức dưới 3,5%.

Đóng góp chính của luận văn là cung cấp một giải pháp phần mềm điều khiển tối ưu, không phát sinh chi phí phần cứng bổ sung nhưng giải quyết triệt để vấn đề xung điện áp common-mode. Lộ trình tiếp theo bao gồm việc triển khai thử nghiệm thực tế trên phần cứng DSP TMS320F28335 trong vòng 6 đến 12 tháng tới. Các kỹ sư và nhà nghiên cứu quan tâm có thể khai thác ngay giải thuật này để nâng cao hiệu suất vận hành của các hệ thống điện gió hiện đại.