Tổng quan nghiên cứu

Thực hiện Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 08/11/2012 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định số 350/QĐ-BCT ngày 17/01/2013 của Bộ Công thương về Đề án phát triển Lưới điện thông minh tại Việt Nam, Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) đã tiên phong triển khai hệ thống điều hành SCADA/DMS từ năm 2016 và vận hành Trung tâm Điều khiển từ xa vào năm 2017. Với quy mô quản lý hơn 2.000.000 khách hàng, EVNHCMC đối mặt với thách thức lớn về sự phân mảnh cơ sở dữ liệu giữa các phần mềm nghiệp vụ như PMIS, OMS, CMIS, MDMS và SCADA/DMS. Các phần mềm chuyên dụng tạo ra những định dạng cục bộ riêng biệt, gây ra tình trạng nhập trùng dữ liệu và tiêu tốn nhiều nguồn lực chuyển đổi.

Luận văn tập trung nghiên cứu giải pháp tích hợp Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) với Mô hình Thông tin Chung (Common Information Model - CIM) theo tiêu chuẩn quốc tế IEC 61968 và IEC 61970 cho lưới điện phân phối trung thế 22kV do Công ty Điện lực Duyên Hải quản lý, trải rộng trên địa bàn huyện Nhà Bè và huyện Cần Giờ. Mục tiêu cụ thể là chuẩn hóa cấu trúc Geodatabase, xây dựng công cụ chuyển đổi dữ liệu không gian GIStoCIM và thiết lập cơ chế chia sẻ dữ liệu liên thông với hệ thống SCADA/DMS của liên danh Alstom-ATS. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn quan trọng, giúp loại bỏ 100% việc nhập liệu trùng lặp, tối ưu hóa hơn 85% tốc độ truy vấn thiết bị đóng cắt và tạo nền tảng vững chắc để thực hiện mục tiêu 100% tuyến dây trung thế vận hành mini-SCADA, trong đó có 30% tuyến dây tự động hóa hoàn toàn (DAS) tại TP.HCM.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng gói tiêu chuẩn quốc tế IEC 61970-301 (dành cho hệ thống quản lý năng lượng EMS) và IEC 61968 (dành cho hệ thống quản lý phân phối DMS) do Viện Nghiên cứu Điện lực Hoa Kỳ (EPRI) khởi xướng. Cấu trúc CIM định nghĩa 8 gói đối tượng chính bao gồm: Core, Wires, Topology, Measurement, Outage, Protection, Generation và LoadModel. Mô hình sử dụng nguyên lý hướng đối tượng kế thừa sâu từ lớp cơ sở IdentifiedObject đến PowerSystemResource, ConductingEquipment, Switch, ProtectedSwitch và các lớp thiết bị cụ thể như Breaker hay LoadBreakSwitch. Cơ chế liên kết vật lý và logic được xác lập chặt chẽ thông qua bộ ba quan hệ ConductingEquipment - Terminal - ConnectivityNode cùng các cấu trúc chứa EquipmentContainer gồm Substation, VoltageLevel và Line.

Bên cạnh đó, nghiên cứu tích hợp lý thuyết mạng hình học không gian (Geometric Network) trong công nghệ GIS của Esri với cơ sở dữ liệu không gian Geodatabase đa định dạng (Vector và Raster). Mô hình quản trị chất lượng dữ liệu được vận hành theo quy trình 3 tầng nghiêm ngặt (Tầng 1 - Khai thác dữ liệu, Tầng 2 - Kiểm tra chất lượng, Tầng 3 - Biên tập dữ liệu) nhằm đáp ứng đầy đủ quy chuẩn kỹ thuật dữ liệu không gian địa lý tỷ lệ 1:2.000 theo quy định của Thông tư 55/2014/TT-BTNMT.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp được thu thập toàn diện từ hiện trạng lưới điện trung thế 22kV tại Công ty Điện lực Duyên Hải trong giai đoạn từ tháng 05/2019 đến tháng 07/2019. Toàn bộ 13 lớp đối tượng không gian và thuộc tính kỹ thuật với hơn 5.000 thiết bị đóng cắt và 80 trạm Recloser tự động trên địa bàn huyện Cần Giờ và huyện Nhà Bè được đưa vào khảo sát. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu toàn bộ (exhaustive sampling) trên thực địa nhằm bảo toàn nguyên vẹn tính liên tục tô pô của mạng lưới phân phối.

Phương pháp phân tích dựa trên mô hình hóa quan hệ thực thể (ERD), lập trình giải thuật ánh xạ đối tượng bằng ngôn ngữ C# trên nền tảng ArcGIS Engine kết nối hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server 2008 qua 2 máy chủ chuyên dụng CIM-GIS server1 và server2. Phương pháp này được lựa chọn vì đảm bảo tính tương thích tuyệt đối với phần mềm ATS-SmartCIM, cho phép trích xuất và đồng bộ dữ liệu hai chiều sang định dạng chuẩn CIM-XML/RDF phục vụ hệ thống SCADA/DMS mà không làm gián đoạn quá trình vận hành thời gian thực.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, nghiên cứu đã chuẩn hóa thành công cấu trúc Enterprise Geodatabase gồm 13 lớp đối tượng chuyên đề ngành điện (từ F01_TBDC_TT đến F12_MuongCap_TT), thiết lập hoàn chỉnh các mối quan hệ không gian theo mô hình Geometric Network với vai trò nguồn, tải và nút phân nhánh.

Thứ hai, việc tái cấu trúc dữ liệu theo phân cấp kế thừa CIM đã giải quyết triệt để hạn chế nghẽn hiệu năng của mô hình GIS cũ. Trước đây, lớp F01_TBDC_TT lưu trữ gộp toàn bộ các loại thiết bị đóng cắt, khiến hệ thống phải quét hơn 5.000 bản ghi để tìm một thiết bị. Sau khi phân tách và chuẩn hóa theo CIM, hệ thống chỉ cần truy vấn đúng 80 thiết bị Recloser, giúp rút ngắn thời gian xử lý dữ liệu hơn 85% và tiết kiệm dung lượng bộ nhớ lưu trữ đáng kể.

Thứ ba, công cụ GIStoCIM được lập trình hoàn chỉnh đã tự động hóa 100% quy trình xuất dữ liệu lưới điện trung thế sang mô hình CIM. Dữ liệu sau chuyển đổi liên kết trực tiếp với 6 hệ thống phần mềm nghiệp vụ cốt lõi tại EVNHCMC gồm: hệ thống quản lý kỹ thuật PMIS, hệ thống thông tin quản lý khách hàng CMIS, hệ thống chăm sóc khách hàng CRM, hệ thống quản lý dữ liệu đo đếm MDMS/AMR, hệ thống quản lý mất điện OMS và hệ thống SCADA/DMS.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phân cấp của CIM cho phép các phần mềm ứng dụng thực hiện phân tích tô pô mạng chỉ bằng việc đọc thuộc tính normalOpen tại lớp Switch cha mà không cần can thiệp sâu vào từng kiểu thiết bị con, đảm bảo tính mở rộng cao khi bổ sung công nghệ mới. So với mô hình triển khai tại Sibelga (Bỉ) trên lưới 11kV với 2.300 km đường dây hay mô hình CIMODB tại trạm 400kV Maharashtra (Ấn Độ), giải pháp tích hợp GIS-CIM tại Duyên Hải đạt hiệu quả vượt trội nhờ khả năng tự động hóa đồng bộ dữ liệu giữa GIS và SCADA/DMS mà không yêu cầu chuyển đổi định dạng trung gian thủ công.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn trực quan qua bảng đối sánh phân cấp thiết bị và sơ đồ luồng dữ liệu 3 tầng, minh chứng rõ ràng việc kết nối bảng thuộc tính với không gian địa lý giúp nâng cao độ chính xác khi xác định vị trí sự cố khách hàng trên bản đồ số, hỗ trợ đắc lực cho Trung tâm Điều độ Hệ thống điện TP.HCM trong việc giám sát trào lưu công suất và tự động hóa khôi phục cấp điện.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, mở rộng triển khai chương trình chuyển đổi dữ liệu GIStoCIM cho toàn bộ 16 Công ty Điện lực thành viên trực thuộc EVNHCMC trong giai đoạn 2020-2022 nhằm đồng bộ hóa toàn bộ cơ sở dữ liệu lưới điện trung thế trên địa bàn thành phố theo chuẩn IEC 61968/61970. Chủ thể thực hiện là Ban Viễn thông và Công nghệ Thông tin phối hợp cùng Công ty Công nghệ Thông tin TP.HCM.

Thứ hai, nâng cấp hạ tầng máy chủ cơ sở dữ liệu CIM-GIS server từ nền tảng SQL Server 2008 lên hệ quản trị phân tán thế hệ mới và hoàn thiện kiến trúc hướng dịch vụ (SOA) thông qua Web Service trước quý 4 năm 2021. Mục tiêu là đảm bảo năng lực chia sẻ dữ liệu trực tuyến theo thời gian thực giữa hệ thống SCADA/DMS và kho dữ liệu đo đếm từ xa MDMS cho hơn 2.000.000 công tơ điện tử.

Thứ ba, chuẩn hóa quy trình cập nhật biến động lưới điện theo mô hình 3 tầng quản trị chất lượng dữ liệu tuân thủ Thông tư 55/2014/TT-BTNMT tại Công ty Điện lực Duyên Hải và các đơn vị bạn. Giải pháp này giúp kiểm soát lỗi tô pô không gian, duy trì độ chính xác dữ liệu mạng lưới đạt mức trên 99,5% phục vụ các thuật toán tính toán tự động hóa DAS.

Thứ tư, tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu về cấu trúc dữ liệu CIM và kỹ năng vận hành công cụ ATS-SmartCIM cho hơn 100 kỹ sư, chuyên viên kỹ thuật thuộc Trung tâm Điều độ và các đơn vị điện lực quận/huyện trong 6 tháng đầu năm 2020 nhằm nâng cao năng lực làm chủ công nghệ điều hành lưới điện thông minh.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Thứ nhất, kỹ sư hệ thống điện và chuyên viên vận hành SCADA/DMS tại các Tổng công ty Điện lực: Luận văn cung cấp phương pháp chi tiết về việc chuyển đổi sơ đồ đơn tuyến sang các lớp đối tượng CIM (Wires, Topology, EquipmentContainer) phục vụ bài toán phân tích mạng và điều khiển tự động hóa.

Thứ hai, chuyên gia phát triển phần mềm và kỹ sư GIS ngành năng lượng: Tài liệu là hướng dẫn thực tiễn về giải thuật chuyển đổi Geodatabase sang CIM-XML/RDF và cách thiết lập mô hình Geometric Network tối ưu cho lưới điện trung thế 22kV.

Thứ ba, cán bộ quản lý kỹ thuật và điều hành lưới điện phân phối: Cung cấp mô hình kết nối liên thông giữa GIS với các phần mềm chuyên ngành như PMIS, OMS, CMIS, MDMS để quản lý tài sản, xác định nhanh điểm sự cố và cải thiện độ tin cậy cung cấp điện.

Thứ tư, giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Kỹ thuật điện, Hệ thống Thông tin Địa lý: Đóng vai trò là nguồn tài liệu học thuật giá trị minh họa việc ứng dụng tiêu chuẩn quốc tế IEC vào bài toán hiện đại hóa hạ tầng đô thị tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Mô hình CIM đóng vai trò gì trong việc xây dựng lưới điện thông minh tại EVNHCMC? Mô hình thông tin chung CIM theo chuẩn IEC 61968 và IEC 61970 đóng vai trò là ngôn ngữ dữ liệu chuẩn duy nhất, giúp xóa bỏ các định dạng phần mềm độc quyền. Điều này tạo điều kiện liên thông dữ liệu giữa hệ thống SCADA/DMS, GIS và hơn 2.000.000 công tơ đo xa MDMS.

Tại sao cơ sở dữ liệu GIS cũ tại Công ty Điện lực Duyên Hải gây chậm tiến độ xử lý? Mô hình cũ gom toàn bộ các loại thiết bị đóng cắt vào một lớp F01_TBDC_TT chung. Khi cần truy vấn thông tin của 80 Recloser, hệ thống buộc phải tìm kiếm tuần tự trên tổng số hơn 5.000 thiết bị, làm lãng phí bộ nhớ và kéo dài thời gian phản hồi.

Tiêu chuẩn IEC 61970-301 và IEC 61968 được ứng dụng như thế nào trong đề tài? Tiêu chuẩn cung cấp khung 8 gói đối tượng chính để mô hình hóa toàn diện mạng điện trung thế 22kV. Mọi thiết bị dẫn điện được phân cấp rõ ràng và kết nối logic thông qua mô hình ConductingEquipment - Terminal - ConnectivityNode.

Công cụ GIStoCIM giải quyết bài toán chuyển đổi dữ liệu không gian ra sao? Chương trình GIStoCIM được lập trình trên nền tảng ArcGIS Engine, tự động trích xuất các thuộc tính hình học và thông số kỹ thuật từ Geodatabase sang định dạng CIM chuẩn, cung cấp đầu vào chính xác tuyệt đối cho hệ thống DMS của liên danh Alstom-ATS.

Việc tích hợp GIS và CIM hỗ trợ cải thiện các chỉ số SAIFI và SAIDI như thế nào? Sự tích hợp này cho phép hệ thống quản lý mất điện OMS liên kết vị trí khách hàng từ CMIS với bản đồ sự cố GIS. Nhờ đó, thời gian phát hiện, cô lập điểm sự cố và khôi phục cấp điện được rút ngắn, giảm thiểu đáng kể thời gian và tần suất mất điện.

Kết luận

Luận văn đã đạt được các kết quả nổi bật sau:

  • Chuẩn hóa thành công 13 lớp đối tượng Geodatabase lưới điện trung thế 22kV theo mô hình thông tin chung CIM tuân thủ chuẩn IEC 61968 và IEC 61970.
  • Xây dựng phần mềm GIStoCIM giúp tự động hóa quá trình xuất nhập dữ liệu không gian, loại bỏ hoàn toàn tình trạng trùng lặp dữ liệu giữa các phần mềm.
  • Tối ưu hóa hiệu năng hệ thống, giảm hơn 85% thời gian truy vấn thông tin thiết bị đóng cắt nhờ cấu trúc phân cấp đối tượng kế thừa.
  • Thiết lập cơ chế liên kết liên thông đa hệ thống giữa GIS với SCADA/DMS, PMIS, CMIS, CRM, OMS và kho dữ liệu đo đếm AMR/MDMS.
  • Hoàn thiện quy trình quản lý chất lượng dữ liệu 3 tầng theo Thông tư 55/2014/TT-BTNMT, nâng cao độ tin cậy cung cấp điện tại huyện Cần Giờ và Nhà Bè.

Trong giai đoạn tiếp theo từ năm 2020 đến 2022, mô hình tích hợp GIS-CIM cần được mở rộng áp dụng cho toàn bộ 16 Công ty Điện lực thuộc EVNHCMC. Các đơn vị quản lý vận hành cần nhanh chóng ứng dụng giải pháp này nhằm hoàn thiện hạ tầng dữ liệu số dùng chung, thúc đẩy quá trình xây dựng đô thị thông minh và hiện đại hóa hệ thống điện toàn quốc.