Đặt vấn đề Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án phát triển Lưới điện thông minh tại Việt Nam (Quyết định số 1670/QĐ-TTg ngày 08/11/2012). Ngay sau đó, Bộ công thương đã thành lập Ban chỉ đạo phát triển Lưới điện thông minh (Quyết định số 350/QĐ-BCT ngày 17/01/2013). Theo thông báo số 79/TB-VPCP ngày 24/02/2014, Tập đoàn điện lực (EVN) có nhiệm vụ hoàn thiện Đề án tổng thể phát triển lưới điện thông minh với các nội dung và lộ trình triển khai rất cụ thể, đề trình Bộ công thương phê duyệt. [9] Tổng công ty Điện lực TPHCM (EVNHCMC) đã tích cực áp dụng công nghệ hiện đại vào sản xuất đặt mục tiêu hàng đầu trong xây dựng lưới điện thông minh phục vụ vận hành - quản lý và đảm bảo độ tin cậy trong cung cấp điện,… Từ năm 2016, EVNHCMC đã hoàn tất việc xây dựng Hệ thống điều hành lưới điện hiện đại (SCADA/DMS) đến năm 2017 cũng đã thành lập Trung tâm Điều khiển lưới điện từ xa với nhiệm vụ theo dõi, giám sát tình hình cung cấp điện, điều khiển tự động trên toàn lưới điện trên địa bàn thành phố.
Đồng thời trong kế hoạch (2017 – 2022) sẽ triển khai lắp đặt điện kế điện tử có chức năng thu thập dữ liệu đo đếm từ xa. Tuy nhiên, mô hình thông tin chung (CIM-Common Information Model) cho phép mô tả toàn bộ các đối tượng trong hệ thống điện vẫn chưa được đề xuất áp dụng. Mô hình thông tin chung (CIM) được phát triển bởi Viện điện Hoa Kỳ (EPRI), đã được áp dụng khá phổ biến trên thế giới, nhằm cho phép ứng dụng quản lý lưới điện trên nền GIS với dữ liệu về các đối tượng hệ thống điện được thiết kế chi tiết theo tiêu chuẩn CIM (Common Object Model - IEC 61968, ICE 61970) kết hợp với Geodatabase được hỗ trợ bởi định dạng Vector và Raster sẽ đem đến rất nhiều lợi ích trong công tác vận hành, quản lý cũng như bảo trì hệ thống điện. [2] Do đó, đề tài được thực hiện nhằm triển khai thử nghiệm ứng dụng mô hình thông tin chung (CIM) kết hợp với hệ thống thông tin địa lý (GIS – Geographical Information System) nhằm tích hợp dữ liệu từ các ứng dụng phần mềm tiện ích, giải quyết các vấn đề khó khăn thường gặp phải trong việc quản lý trao đổi dữ liệu giữa các hệ thống ứng dụng GIS của ngành điện.
1 Hiện nay, các Công ty điện lực nói riêng hay Tổng công ty Điện lực Tp.HCM nói chung, đang sử dụng dữ liệu dưới nhiều định dạng khác nhau từ cơ sở dữ liệu được lưu trữ tại các server (tại đơn vị trực thuộc, Công ty Công nghệ Thông tin) để cung cấp thông tin về quản lý tài sản, lập kế hoạch duy tu và cung cấp dịch vụ thông tin về khách hàng. Do các cơ sở dữ liệu được hình thành từ các phần mềm chuyên dụng, nên tạo ra khuôn dạng dữ liệu riêng (format data) nên khó hình thành cơ sở dữ liệu dùng chung để chia sẽ dữ liệu giữa các đơn vị trong hệ thống. Áp dụng mô hình thông tin chung (CIM) nhằm tạo cơ sở dữ liệu dùng chung trong quản lý và vận hành lưới điện, cho phép chia sẻ và tích hợp nhanh dữ liệu hỗ trợ các hệ thống điều khiển và phần mềm mô phỏng; khắc phục các trở ngại trong việc cập nhật biến động dữ liệu; tránh đầu tư xây dựng dữ liệu trùng lắp (nhập trùng) nâng cao khả năng khai thác và sử dụng tài nguyên hiệu quả trong hệ thống điện. Trước nhu cầu trao đổi dữ liệu trong nội bộ cơ quan điện lực (giữa các ứng dụng khác nhau) và chia sẻ dữ liệu với các Công ty và Sở Ban ngành khác.
Mô hình CIM là giải pháp được đề xuất để hình thành cơ sở dữ liệu GIS phục vụ không chỉ trong quản lý và phân phối điện, mà còn hình thành dữ liệu dùng chung trong chiến lược phát triển đô thị thông minh của TP. Mục tiêu của đề tài - Mục tiêu tổng quát: Ứng dụng Mô hình thông tin chung (CIM) trong xây dựng cơ sở dữ liệu GIS, nhằm hình thành quy trình cập nhật và chia sẻ dữ liệu lưới điện phân phối thống nhất tại Công ty điện lực Duyên hải. - Mục tiêu cụ thể: Đánh giá hiện trạng cơ sở dữ liệu lưới điện trên phần mềm ứng dụng GIS trong quản lý vận hành hệ thống điện. Ứng dụng quản lý lưới điện trên nền GIS với dữ liệu về các đối tượng hệ thống điện được thiết kế chi tiết theo tiêu chuẩn CIM.
Ứng dụng mô hình CIM trên hệ thống GIS khai thác dữ liệu từ các ứng dụng khác và cung cấp dữ liệu cho hệ thống SCADA/DMS. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 1.1 Đối tượng nghiên cứu Mô hình thông tin chung (CIM) trong xây dựng cơ sở dữ liệu GIS thống nhất phần lưới điện trung thế 22kV tại Công ty điện lực Duyên Hải, Tp.2 Phạm vi nghiên cứu Nghiên cứu sẽ tiến hành cho cơ sở dữ liệu lưới điện trung thế thuộc phạm vi huyện Cần Giờ và huyện Nhà Bè, TP. Nội dung nghiên cứu Để đạt được mục tiêu, đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu 04 nội dung như sau: - Nội dung 1: Tổng quan về ứng dụng các phần mềm trong quản lý, vận hành hệ thống điện tại EVNHCMC. - Nội dung 2: Đánh giá hiện trạng và nhu cầu chia sẻ cơ sở dữ liệu GIS trong quản lý Hình 1.1: Mô hình chia sẽ dữ liệu GIS tại các công ty điện lực 3 - Nội dung 3: Đề xuất mô hình thông tin chung (CIM) cho hệ thống GIS.
Đồng thời xây dựng công cụ chuyển đổi cơ sở dữ liệu GIS hiện hữu sang cấu trúc CIM và đề xuất giải pháp kết nối với các ứng dụng khác.2: Mô hình kết nối dữ liệu trong quản lý và vận hành hệ thống điện - Nội dung 4: Phát triển ứng dụng dữ liệu hệ thống điện trên nền GIS để khai thác dữ liệu từ các phần mềm dùng chung của EVN (PMIS, đo xa, CMIS…) và cung cấp dữ liệu đầu vào cho hệ thống SCADA/DMS.3: Mô hình thông tin chung CIM trong kết nối hệ thống trên nền GIS 4 1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 1. Ý nghĩa khoa học - Đề xuất giải pháp khai thác dữ liệu GIS và chia sẽ dữ liệu dùng chung cho các chương trình ứng dụng đang triển khai tại Công ty điện lực Duyên Hải từ đó có thể nhân rộng trong toàn Tổng công ty Điện lực Tp. - Góp phần tạo mô hình cơ sở dữ liệu GIS cho lưới điện phân phối theo mô hình thông tin dùng chung (CIM) tiêu chuẩn IEC 61968/61970.
- Tạo cơ sở khoa học để nhân rộng mô hình giúp các Công ty điện lực nói riêng và EVNHCMC nói dung khai thác hiệu quả CSDL mà không tốn quá nhiều nguồn lực để chuyển đổi dữ liệu và tích hợp dữ liệu cho nhiều ứng dụng khác nhau. Ý nghĩa thực tiễn - Hệ thống hóa và đánh giá kiến trúc dữ liệu GIS hiện tại và khả năng đáp ứng với tình hình triển khai chương trình SCADA/DMS tiến đến hình thành lưới điện thông minh theo chương trình của EVNHCMC; - Tạo các công cụ GIS phù hợp để đảm bảo việc hạn chế cập nhật thông tin trùng lắp qua nhiều ứng dụng tại Công ty Điện lực Duyên Hải; - Phát triển chương trình GIS được xây dựng từ kết quả nghiên cứu để hỗ trợ khai thác dữ liệu đo đếm từ xa, quản lý phụ tải, phân bố công suất và cung cấp dữ liệu đầu vào cho hệ thống SCADA/DMS đáp ứng nhu cầu của Công ty Điện lực Duyên Hải và của Trung tâm Điều độ Hệ thống điện TPHCM. 5 Chương 2: TỔNG QUAN 2. Tình hình ứng dụng CNTT trong EVNHCMC “Hiện đại hóa lưới điện” là chủ đề hoạt động năm 2017 của Tổng công ty nói riêng và Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) nói chung nhằm nâng cao hiệu quả quản lý điều hành, đầu tư, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khách hàng, tăng năng suất lao động và bảo vệ môi trường.
Từ năm 2016, các đơn vị trong toàn Tổng công ty đã thực hiện nhiều đề tài và sáng kiến có tính ứng dụng cao phục vụ trực tiếp sản xuất, mang lại lợi ích thiết thực, như: Các đề tài sản xuất thử nghiệm thiết bị đầu cuối (RTU) cho các nhà máy điện; Ứng dụng công nghệ composite bảo vệ bề mặt các hệ thống thiết bị nhà máy nhiệt điện đốt than; Nghiên cứu phương pháp giám sát dòng rò cách điện đường dây và chế tạo thiết bị giám sát, ghi lưu dòng rò từ xa theo thời gian thực (online); Các đề tài nghiên cứu liên quan đến thiết bị đo đếm (công tơ); ứng dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS),.[7] Trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ thông tin, EVN đã nâng cấp và khai thác có hiệu quả các hệ thống phần mềm dùng chung phục vụ quản lý, điều hành sản xuất, kinh doanh như: Hệ thống E-Office; Hệ thống quản lý khách hàng dùng điện; Phần mềm quản lý đầu tư xây dựng; Quản lý kỹ thuật lưới điện và nguồn điện (PMIS); hệ thống thông tin địa lý (GIS); triển khai hệ thống MiniSCADA/DMS mở ra một phương thức vận hành mới tiên tiến. [10] Cùng với nhiều giải pháp đồng bộ khác, việc ứng dụng khoa học công nghệ đã góp phần bảo đảm cung cấp đủ điện, an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao năng suất lao động cũng như hiệu quả đầu tư kinh doanh, bảo vệ môi trường. Đặc biệt, trong lĩnh vực dịch vụ khách hàng, các chỉ tiêu về thời gian mất điện, tần suất mất điện, thời gian giải quyết cấp điện mới… đã giảm đáng kể. Chương trình Quản lý vật tư thiết bị lưới điện trung thế Chương trình được đưa vào sử dụng từ năm 2009 với chức năng phục vụ công tác quản lý vật tư thiết bị lưới điện trung thế và hạ thế như Máy cắt, RMU, LBS, Recloser, Máy biến thế, FCO, LBFCO, LA, TU, TI, tụ bù,… Định hướng trong thời gian tới sẽ thay thế bằng chương trình PMIS dùng thống nhất trong Tập đoàn.
Chương trình Quản lý mất điện Chức năng: Theo dõi, cập nhật tình hình cung cấp điện cho khách hàng, cung cấp dữ liệu cho trang web theo dõi mất điện của Tổng công ty và chương trình CRM giúp Trung tâm chăm sóc khách hàng trả lời khách hàng về tình hình cung cấp điện. Tính toán chỉ số độ tin cậy cung cấp điện (SAIFI, SAIDI) được đưa vào sử dụng năm 2011. Tuy nhiên kết quả tính toán chỉ số độ tin cậy chưa chính xác do vẫn phụ thuộc vào việc nhập số liệu của nhân viên vận hành. Định hướng: Liên kết OMS với MDMS để tính chính xác chỉ số độ tin cậy cung cấp điện, liên kết với GIS để tạo bản đồ chuyên đề quản lý mất điện.