Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ kỹ thuật số và các nền tảng mạng xã hội đã đưa truyền thông thâm nhập sâu rộng vào mọi mặt đời sống, định hình nhận thức cũng như hành vi của công chúng. Lượng thông điệp truyền thông được truyền tải hằng ngày qua vô số kênh phát như điện thoại di động, truyền hình, phát thanh, báo chí, mạng xã hội và quảng cáo. Tuy nhiên, sự bùng nổ này kéo theo nhiều hệ lụy nghiêm trọng như sự lan truyền của tin giả, phát ngôn thù ghét, thông tin sai lệch, bắt nạt trực tuyến và lừa đảo không gian mạng. Không ít người dùng do thiếu năng lực nhận diện đã trở thành nạn nhân hoặc vô tình tiếp tay phát tán thông tin độc hại.

Trong bối cảnh Việt Nam triển khai chương trình Chuyển đổi số quốc gia, việc xây dựng lực lượng "công dân số" có trách nhiệm và tư duy phản biện trở thành yêu cầu cấp thiết. Để đáp ứng mục tiêu này, mỗi cá nhân cần được trang bị năng lực số, trong đó năng lực thông hiểu truyền thông (Media Literacy) giữ vai trò cốt lõi. Đối với sinh viên chuyên ngành Báo chí – Truyền thông – lực lượng sáng tạo nội dung và nhà báo tương lai, việc làm chủ năng lực này không chỉ dừng lại ở quyền lợi cá nhân mà còn là trách nhiệm nghề nghiệp trực tiếp đối với xã hội.

Nhằm làm rõ thực trạng năng lực truyền thông của nhóm đối tượng đặc thù trên, tác giả Trần Văn Vỹ đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Nghiên cứu năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên chuyên ngành Báo chí – Truyền thông ở Việt Nam", dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trần Thị Yến Minh tại Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (2023).

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào ba nhiệm vụ trọng tâm:

  1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận và các vấn đề chung về năng lực thông hiểu truyền thông.
  2. Khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên chuyên ngành Báo chí – Truyền thông tại Việt Nam dựa trên bốn thành tố: khả năng tiếp cận, khả năng phân tích – đánh giá, khả năng kiến tạo và khả năng tác động.
  3. Phân tích ảnh hưởng của năng lực thông hiểu truyền thông đến thói quen tiêu thụ thông tin của khách thể nghiên cứu.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên, bao gồm các năng lực tiếp cận (access), phân tích (analyze), đánh giá (evaluate), kiến tạo (create) và tác động (affect) đối với thông điệp truyền thông.
  • Khách thể nghiên cứu: Sinh viên đang theo học chuyên ngành Báo chí – Truyền thông.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tại 06 cơ sở đào tạo đại diện cho các vùng miền ở Việt Nam: Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (KHXH&NV HN), Học viện Báo chí và Tuyên truyền (BCTT), Trường Đại học Khoa học – Đại học Huế (ĐH Huế), Trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng (SPĐN), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (KHXH&NV HCM) và Trường Ngoại ngữ Xã hội Nhân văn – Đại học Duy Tân (ĐH Duy Tân).
  • Phạm vi thời gian: Dữ liệu khảo sát thực tiễn được thu thập từ tháng 12/2022 đến đầu tháng 04/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận kế thừa và hệ thống hóa nhiều khung lý thuyết nền tảng về truyền thông và giáo dục truyền thông:

  • Khung đánh giá Năng lực thông hiểu truyền thông mới (New Media Literacy Scale - NMLS) do Mustafa Koc và Esra Barut (2016) phát triển dựa trên khung lý thuyết của Lin et al. (2013).
  • Định nghĩa và mô hình cấu trúc của Sonia Livingstone (2004), Viện Nghiên cứu Năng lực Thông hiểu Truyền thông Aspen (1992) và Trung tâm Nghiên cứu Năng lực Thông hiểu Truyền thông CML (Jolls & Thoman, 2008).
  • 5 quan điểm cốt lõi và 5 câu hỏi truy vấn thông điệp truyền thông của Elizabeth Thoman (CML).
  • Mô hình truyền thông cổ điển của Harold Lasswell (1948) với 5 thành tố: nguồn phát, thông điệp, kênh truyền, người nhận và hiệu quả/tác động.
  • Khung năng lực Truyền thông và Thông tin (Media and Information Literacy - MIL) của UNESCO (Wilson et al., 2011; UNESCO, 2013).
  • Các công trình nghiên cứu lý luận và thuật ngữ trong nước của Nguyễn Thu Giang và Bùi Việt Hà (2010), Vũ Thanh Vân (2021, 2022).

Phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp khảo sát định lượng thông qua kỹ thuật điều tra bằng bảng hỏi cấu trúc. Bảng hỏi khảo sát gồm:

  • 27 nhận định đo lường 4 thành phần của năng lực thông hiểu truyền thông (sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 5 = Hoàn toàn đồng ý), được tác giả hiệu chỉnh và rút gọn từ thang đo 35 nhận định của Koc & Barut (2016) để tương thích với bối cảnh sinh viên Việt Nam.
  • 04 câu hỏi đo lường thói quen tiêu dùng thông tin theo thang nhị phân (Có / Không).
  • 09 câu hỏi nhân khẩu học (giới tính, dân tộc, trường học, năm học, trình độ học vấn cha mẹ, thời gian dùng Internet, việc từng được tập huấn NLTHTT...).

Nguồn dữ liệu khảo sát được triển khai trực tiếp kết hợp trực tuyến qua Google Forms. Tổng số mẫu thu về ban đầu là 535 mẫu. Sau khi thực hiện kiểm tra độ tin cậy sơ bộ và sàng lọc loại bỏ 71 mẫu có độ lệch chuẩn thấp (<0.3), tập dữ liệu chính thức đưa vào xử lý gồm 463 mẫu hợp lệ.

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26 qua các kỹ thuật thống kê:

  • Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (các nhân tố mẹ đều đạt hệ số > 0.7; các biến quan sát đều đạt yêu cầu).
  • Thống kê mô tả (tính giá trị trung bình M, độ lệch chuẩn).
  • Kiểm định so sánh trung bình: Independent Samples T-Test (với các biến giới tính, tình trạng được đào tạo NLTHTT) và One-way ANOVA, phân tích Post-Hoc (với các biến trường học, năm học, trình độ học vấn cha mẹ, thời gian dùng Internet).
  • Phân tích cụm K-Means (K-Means Cluster Analysis, k=2) để phân tách khách thể thành hai nhóm có NLTHTT cao và NLTHTT thấp, từ đó kiểm định mối quan hệ với thói quen tiêu dùng thông tin.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề chung về năng lực thông hiểu truyền thông

Chương 1 tập trung làm rõ các khái niệm căn bản và xây dựng hệ thống cơ sở lý luận của đề tài:

  • Khái niệm và định nghĩa: Phân tích khái niệm năng lực, truyền thông và năng lực thông hiểu truyền thông (Media Literacy). NLTHTT được xác định là khả năng tiếp cận, phân tích, đánh giá và kiến tạo thông điệp truyền thông trên cả phương tiện truyền thống lẫn phương tiện truyền thông mới.
  • Phân định khái niệm: Tác giả lập bảng so sánh chi tiết để phân biệt rõ ba khái niệm có sự giao thoa:
    • Năng lực thông hiểu truyền thông (Media Literacy): Tập trung vào việc tiếp cận, phân tích, đánh giá và sáng tạo nội dung trên đa dạng phương tiện.
    • Năng lực thông hiểu tin tức (News Literacy): Tập trung vào khả năng nhận biết, đánh giá độ tin cậy của tin tức báo chí và sự kiện xã hội.
    • Năng lực truyền thông và thông tin (MIL): Hệ sinh thái rộng hơn do UNESCO chuẩn hóa, bao gồm cả kỹ năng truy hồi, tổ chức, quản trị thông tin và tham gia xã hội.
  • Các yếu tố cấu thành năng lực thông hiểu truyền thông: Khẳng định NLTHTT được hình thành từ sự kết hợp của ba trụ cột:
    1. Kiến thức: Hiểu biết về hệ sinh thái truyền thông, cơ chế vận hành thông điệp, quy định pháp luật và chuẩn mực đạo đức báo chí.
    2. Kỹ năng: Gồm kỹ năng tiếp cận phương tiện kỹ thuật, kỹ năng nhận diện – thẩm định tính xác thực của thông tin và kỹ năng sáng tạo nội dung số có trách nhiệm.
    3. Thái độ: Duy trì tư duy phê phán, sự hoài nghi lành mạnh và tính cởi mở, tránh bị dẫn dắt bởi các chiêu trò truyền thông câu view.
  • Ý nghĩa của năng lực thông hiểu truyền thông: Làm rõ 4 nhóm giá trị: giúp công chúng trở thành công dân có trách nhiệm; nâng cao khả năng tự vệ trong môi trường bão hòa thông tin số; trở thành tiếng nói đại diện tích cực cho thế hệ; và cung cấp 5 lý do căn bản để đưa giáo dục truyền thông vào nhà trường.

Chương 2: Năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên chuyên ngành Báo chí – Truyền thông khảo sát một số cơ sở đào tạo ở Việt Nam

Chương 2 trình bày toàn bộ kết quả phân tích định lượng từ 463 mẫu khảo sát sinh viên tại 6 trường đại học.

Đặc điểm mẫu nghiên cứu Phân nhóm Số lượng (n) Tỷ lệ (%)
Giới tính Nam 168 36.3%
Nữ 291 62.5%
Khác / Chưa rõ 4 1.2%
Dân tộc Kinh 447 96.5%
Khác 16 3.5%
Cơ sở đào tạo Học viện Báo chí và Tuyên truyền (BCTT) 59 12.7%
ĐH KHXH&NV Hà Nội (KHXH&NV HN) 87 18.8%
ĐH Khoa học – ĐH Huế (ĐH Huế) 89 19.2%
ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng (SPĐN) 84 18.1%
ĐH KHXH&NV TP.HCM (KHXH&NV HCM) 62 13.4%
ĐH Duy Tân 82 17.7%
Năm học Sinh viên năm thứ nhất 130 28.1%
Sinh viên năm thứ hai 171 36.9%
Sinh viên năm thứ ba 132 28.5%
Sinh viên năm thứ tư 30 6.6%
Thời gian sử dụng Internet Dưới 3 giờ/ngày 29 6.3%
Từ 3 đến 5 giờ/ngày 136 29.4%
Từ 6 đến 7 giờ/ngày 163 35.2%
Trên 7 giờ/ngày 135 29.0%

Thống kê mô tả mức độ tổng thể của 4 năng lực thành phần đạt các giá trị trung bình sau:

Thành phần năng lực Giá trị trung bình (M) Đánh giá chung
Năng lực kiến tạo 3.64 Cao nhất
Năng lực tiếp cận 3.57 Khá
Năng lực phân tích và đánh giá 3.46 Trung bình khá
Năng lực tác động 3.40 Thấp nhất

Phân tích ảnh hưởng của các biến nhân khẩu học:

  • Kiểm định T-Test: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê về NLTHTT theo giới tính ($p > 0.05$) hoặc theo tình trạng đã từng được tập huấn/đào tạo NLTHTT ($p > 0.05$).
  • Kiểm định ANOVA: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê theo trình độ học vấn của cha mẹ ($p > 0.05$) và theo số năm học của sinh viên ($p > 0.05$). Việc sinh viên năm nhất và năm tư không chênh lệch đáng kể cho thấy chương trình đào tạo hiện tại chưa tạo ra sự phân hóa rõ rệt về năng lực này.
  • Khác biệt có ý nghĩa thống kê ($p < 0.05$):
    • Theo trường học: Xuất hiện sự khác biệt rõ rệt ở năng lực tiếp cận và kiến tạo giữa các trường. Điểm trung bình của sinh viên ĐH Duy Tân ở hai năng lực này cao hơn đáng kể so với các đơn vị khác (tiếp cận đạt M = 3.984; kiến tạo đạt M = 3.821). Ngược lại, năng lực phân tích – đánh giá và năng lực tác động không có sự khác biệt thống kê giữa 6 trường, duy trì mức điểm trung bình từ 3.34 đến 3.55.
    • Theo thời gian sử dụng Internet: Thời gian trực tuyến tỷ lệ thuận với khả năng tiếp cận (nhóm dùng <3h đạt M = 3.28; nhóm dùng >7h đạt M = 3.68, $p = 0.020$). Đối với khả năng kiến tạo, nhóm sử dụng 3-5h/ngày đạt điểm cao nhất (M = 3.73), sau đó giảm nhẹ ở nhóm 6-7h (M = 3.58) và tăng lại ở nhóm >7h (M = 3.68).

Phân tích chi tiết từng nhận định trong nhóm khả năng tiếp cận:

  • Nhận định đạt điểm cao nhất: "Sử dụng thành thạo các kênh/nền tảng truyền thông khác nhau để tìm kiếm thông tin" ($M = 3.84$).
  • Nhận định đạt điểm thấp nhất: "Nắm bắt sự thay đổi của các phương tiện truyền thông một cách thành thạo" ($M = 3.32$).

Chương 3: Tác động của năng lực thông hiểu truyền thông đến thói quen tiêu thụ thông tin của sinh viên Báo chí – Truyền thông

Chương 3 sử dụng thuật toán phân cụm K-Means Cluster Analysis ($k=2$) để chia tập khách thể thành 2 nhóm: nhóm có NLTHTT cao và nhóm có NLTHTT thấp. Sau đó, tác giả sử dụng kiểm định Independent Samples T-Test để phân tích sự khác biệt giữa hai nhóm này đối với 4 khía cạnh thói quen tiêu dùng thông tin:

  1. Khả năng nắm bắt đầy đủ, toàn diện các vấn đề xã hội.
  2. Mức độ chủ động tiếp cận các loại hình báo chí truyền thống (báo in, phát thanh, truyền hình) để cập nhật thông tin chuẩn xác.
  3. Thói quen theo dõi và tiếp cận các tài khoản mạng xã hội chính thức của các cơ quan báo chí – truyền thông.
  4. Mức độ truy cập mạng xã hội thông thường để tìm kiếm và cập nhật tin tức.

Kết quả kiểm định cho thấy những sinh viên thuộc nhóm NLTHTT cao có xu hướng chọn lọc nguồn tin kỹ lưỡng hơn, duy trì thói quen tiếp cận các kênh thông tin chính thống và có khả năng bao quát thông tin xã hội tốt hơn so với nhóm có NLTHTT thấp.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Đo lường định lượng cụ thể: Xác lập bức tranh thực trạng về năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên Báo chí – Truyền thông tại Việt Nam với thang điểm trung bình đạt mức khá ($M = 3.40 - 3.64$). Trong đó, sinh viên thể hiện điểm số cao ở các kỹ năng kỹ thuật và thao tác thực hành (kiến tạo $M = 3.64$, tiếp cận $M = 3.57$), nhưng còn hạn chế ở năng lực nhận thức sâu và phản biện xã hội (phân tích – đánh giá $M = 3.46$, tác động $M = 3.40$).
  • Phát hiện quy luật tương quan: Bác bỏ các giả định truyền thống về sự chênh lệch NLTHTT theo năm học hay theo việc từng tham gia khóa tập huấn. Khẳng định sự khác biệt chỉ xuất hiện rõ nét ở yếu tố cơ sở đào tạo và thời gian sử dụng Internet trong ngày.
  • Tác động hành vi: Chứng minh thực nghiệm mối liên hệ giữa mức độ thông hiểu truyền thông và thói quen tiêu dùng thông tin chất lượng cao, có chọn lọc trên không gian mạng.

Giải pháp và khuyến nghị của tác giả

  • Đổi mới chương trình đào tạo: Các cơ sở đào tạo chuyên ngành Báo chí – Truyền thông cần tích hợp giáo dục NLTHTT vào chương trình chính khóa, chú trọng rèn luyện tư duy phản biện, kỹ năng thẩm định nguồn tin, đạo đức truyền thông và nhận thức pháp luật số thay vì chỉ tập trung vào kỹ năng sản xuất nội dung đơn thuần.
  • Nâng cao năng lực tự học và kiểm chứng: Sinh viên cần chủ động rèn luyện thói quen kiểm chứng chéo (cross-check), nhận diện bẫy ngụy biện và các thuật toán dẫn dắt trên mạng xã hội.
  • Phát triển học liệu bản địa: Các trường đại học cần phối hợp xây dựng cẩm nang, tài liệu hướng dẫn và các khóa tập huấn chuẩn hóa về NLTHTT phù hợp với thực tiễn môi trường truyền thông Việt Nam.

Đóng góp khoa học của đề tài

  • Khóa luận là một trong những công trình khảo sát định lượng quy mô đầu tiên tại Việt Nam đánh giá toàn diện NLTHTT trên nhóm đối tượng đặc thù là sinh viên ngành Báo chí – Truyền thông trải dài trên cả 6 cơ sở đào tạo đại diện ba miền Bắc, Trung, Nam.
  • Cung cấp dữ liệu thực nghiệm kiểm chứng thang đo NMLS của Koc & Barut (2016) khi áp dụng vào bối cảnh giáo dục đại học tại Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tự chỉ ra một số hạn chế trong quá trình thực hiện:

  • Về công cụ đo lường: Bảng hỏi khảo sát được chuyển dịch và hiệu chỉnh từ thang đo quốc tế (Koc & Barut, 2016), do đó một số nhận định có thể chưa phản ánh trọn vẹn đặc trưng văn hóa và hành vi truyền thông của sinh viên bản địa.
  • Về mẫu khảo sát: Quá trình thu thập mẫu tại khu vực miền Nam gặp khó khăn khách quan (Trường Đại học Văn Lang chỉ thu được 1 phiếu và phải thay thế bằng Trường Ngoại ngữ Xã hội Nhân văn – Đại học Duy Tân tại miền Trung), làm giảm tính đại diện dự kiến ban đầu của nhóm mẫu miền Nam (từ 100 mẫu dự kiến xuống còn 62 mẫu thực tế của ĐH KHXH&NV TP.HCM).
  • Về phương pháp: Đề tài chủ yếu dựa trên khảo sát bảng hỏi định lượng tự đánh giá (self-reported).

Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất:

  • Tiếp tục điều chỉnh, chuẩn hóa bảng hỏi để phù hợp hơn với đặc thù khách thể bản địa tại Việt Nam.
  • Mở rộng quy mô mẫu khảo sát và cân bằng hơn tỷ lệ đại diện theo vùng miền.
  • Bổ sung thêm các phương pháp nghiên cứu định tính (phỏng vấn sâu, quan sát thực tế) và các mô hình kiểm định định lượng phức hợp (như SEM, hồi quy đa biến) để hoàn thiện bức tranh nghiên cứu.

Giá trị tham khảo

Công trình là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên cao học ngành Báo chí, Truyền thông đa phương tiện, Quan hệ công chúng, Xã hội học: Tham khảo cách thức xây dựng khung lý thuyết, quy trình thiết kế bảng hỏi và xử lý dữ liệu thống kê bằng SPSS (Cronbach's Alpha, ANOVA, K-Means Cluster Analysis).
  • Giảng viên và nhà quản lý giáo dục đại học: Sử dụng các phát hiện thực trạng và số liệu so sánh giữa các trường để điều chỉnh khung chương trình đào tạo, bổ sung các học phần về kỹ năng số và tư duy phản biện truyền thông.
  • Các nhà nghiên cứu về truyền thông số: Kế thừa thang đo 27 nhận định đã được kiểm định độ tin cậy để phục vụ các nghiên cứu tiếp theo về năng lực số và hành vi tiêu dùng tin tức của giới trẻ.

Câu hỏi thường gặp

1. Thang đo nào được tác giả sử dụng làm khung tham chiếu chính để thiết kế bảng hỏi khảo sát?
Tác giả sử dụng khung đánh giá Năng lực thông hiểu truyền thông mới (New Media Literacy Scale - NMLS) của Mustafa Koc và Esra Barut (2016), vốn được kế thừa từ nghiên cứu của Lin et al. (2013). Bảng hỏi gốc gồm 35 nhận định đã được tác giả chọn lọc và hiệu chỉnh còn 27 nhận định phù hợp với bối cảnh thực tế tại Việt Nam.

2. Khảo sát chính thức thu thập được bao nhiêu mẫu và được phân bổ tại những trường đại học nào?
Tổng số mẫu khảo sát hợp lệ đưa vào phân tích chính thức là 463 mẫu (sau khi sàng lọc từ 535 mẫu ban đầu), thu thập tại 6 cơ sở đào tạo: ĐH KHXH&NV Hà Nội (87 mẫu), Học viện Báo chí và Tuyên truyền (59 mẫu), ĐH Khoa học – ĐH Huế (89 mẫu), ĐH Sư phạm – ĐH Đà Nẵng (84 mẫu), ĐH KHXH&NV TP.HCM (62 mẫu) và ĐH Duy Tân (82 mẫu).

3. Trong bốn năng lực thành phần, năng lực nào đạt điểm trung bình cao nhất và thấp nhất?
Theo kết quả thống kê mô tả, năng lực kiến tạo thông điệp truyền thông đạt giá trị trung bình cao nhất ($M = 3.64$), tiếp theo là năng lực tiếp cận ($M = 3.57$), năng lực phân tích và đánh giá ($M = 3.46$), và thấp nhất là năng lực tác động ($M = 3.40$).

4. Những yếu tố nhân khẩu học nào không tạo ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê đối với năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên?
Kiểm định T-Test và ANOVA chỉ ra rằng các biến: giới tính ($p > 0.05$), dân tộc ($p > 0.05$), trình độ học vấn của cha mẹ ($p > 0.05$), số năm học của sinh viên từ năm 1 đến năm 4 ($p > 0.05$) và việc từng tham gia khóa đào tạo về NLTHTT ($p > 0.05$) đều không tạo ra sự khác biệt mang ý nghĩa thống kê đối với NLTHTT của sinh viên.

5. Thời gian sử dụng Internet hằng ngày tác động như thế nào đến khả năng tiếp cận và kiến tạo truyền thông?
Thời gian trực tuyến tỷ lệ thuận với năng lực tiếp cận (tăng đều từ $M = 3.28$ ở nhóm dưới 3 giờ/ngày lên $M = 3.68$ ở nhóm trên 7 giờ/ngày). Đối với năng lực kiến tạo, nhóm sử dụng 3-5 giờ/ngày đạt điểm trung bình cao nhất ($M = 3.73$), sau đó giảm ở nhóm 6-7 giờ/ngày ($M = 3.58$) và tăng trở lại ở nhóm trên 7 giờ/ngày ($M = 3.68$).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Trần Văn Vỹ đã giải quyết một cách khoa học và hệ thống bức tranh thực trạng về năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên chuyên ngành Báo chí – Truyền thông tại Việt Nam hiện nay. Nghiên cứu chỉ ra rằng sinh viên có thế mạnh về kỹ năng thao tác công nghệ và kiến tạo nội dung nhưng còn bộc lộ hạn chế ở năng lực phản biện, phân tích chuyên sâu và tạo tác động xã hội tích cực. Thông qua các kiểm định định lượng chuẩn xác trên mẫu khảo sát 463 sinh viên tại 6 cơ sở đào tạo, công trình cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng có giá trị cao cho việc đổi mới nội dung giảng dạy báo chí – truyền thông và hoạch định các chương trình giáo dục công dân số tại Việt Nam.