MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài Sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội đã cho phép truyền thông len lỏi vào mọi ngóc ngách của đời sống và tác động mạnh mẽ đến nhận thức, hành vi của công chúng (Thông, 2021). Từ điện thoại di động, mạng xã hội, trò chơi điện tử, truyền hình, âm nhạc, đài phát thanh; cho đến báo, tạp chí, quảng cáo, Internet hay thậm chí là trên áo phông tất cả đều chứa một lượng lớn các thông điệp truyền thông. Tuy nhiên, trên thực tế không phải bất cứ thông điệp truyền thông nào cũng an toàn đối với công chúng.
Mặt khác, không phải công chúng nào cũng đủ năng lực thông hiểu truyền thông có thể hiểu, phân tích, đánh giá và tự bảo vệ bản thân trước các thông điệp truyền thông ngay khi tiếp nhận nó, nhất là đối với những thông điệp không an toàn. Không ít người đã trở thành nạn nhân của các vấn nạn như tin giả, phát ngôn thù ghét, bắt nạt trên mạng, thông tin xấu độc, lừa đảo, v.v Thậm chí, chính các nạn nhân còn tiếp tay để các thông điệp truyền thông bẩn có cơ hội tiếp tục được lan rộng trong cộng đồng. Điều này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội. Chính lẽ đó, mỗi công dân cần được trang bị về năng lực thông hiểu truyền thông để hình thành tư duy phản biện, thể hiện quan điểm cá nhân và trở thành một công dân số có trách nhiệm.
Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên trên thế giới ban hành chương trình hay chiến lược về Chuyển đổi số quốc gia (Anh, 2022). Bộ Thông tin và Truyền thông sớm nhận định vai trò quan trọng của người dân trong công cuộc chuyển đổi số: “Chuyển đổi số là cuộc cách mạng toàn dân. Mỗi người dân phải trở thành công dân số thì chuyển đổi số mới thành công” (Sổ tay tuyên truyền Chính quyền điện tử và Chuyển đổi số, 2022). Theo đó, để trở thành một công dân số, mỗi cá nhân cần được trang bị về năng lực số, trong đó có năng lực thông hiểu truyền thông.
Cụ thể, năng lực thông hiểu truyền thông là khả năng tiếp cận, phân tích, đánh giá và sáng tạo nội dung truyền thông trên nhiều ngữ cảnh khác nhau (Livingstone, 2004). Vượt lên trên vai trò và trách nhiệm của một công dân, đội ngũ nhà báo, phóng viên - những người trực tiếp sáng tạo nội dung truyền thông cần phải am hiểu và làm chủ năng lực thông hiểu truyền thông. Do đó, nâng cao năng lực thông hiểu truyền thông trở thành yêu cầu đối với các nhà báo, đặc biệt là các sinh viên đang theo học chuyên ngành Báo chí - Truyền thông, những nhà báo và người sáng tạo truyền thông tương lai. Bên cạnh những kiến thức và kĩ năng được đào tạo trong trường đại học, làm chủ truyền 1 thông sẽ giúp sinh viên chuyên ngành Báo chí - Truyền thông trở thành những công chúng truyền thông thông minh và người sáng tạo truyền thông có trách nhiệm.
Để đánh giá mức độ thông hiểu truyền thông của nhóm công chúng đặc biệt này, chúng tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên chuyên ngành Báo chí - Truyền thông ở Việt Nam”. Thông qua đó, nghiên cứu sẽ tập trung đánh giá mức độ thông hiểu truyền thông của sinh viên chuyên ngành Báo chí -Truyền thông ở Việt Nam, cụ thể tìm hiểu năng lực tiếp cận, phân tích - đánh giá, kiến tạo và tác động của nhóm sinh viên này với các hoạt động và thông điệp truyền thông. Kết quả của nghiên cứu sẽ là cơ sở để so sánh, đánh giá và chỉ ra sự khác nhau về năng lực thông hiểu truyền thông của sinh viên chuyên ngành Báo chí - Truyền thông tại các cơ sở đào tạo khác nhau ở Việt Nam. Từ đó, khóa luận cung cấp những chỉ báo và khuyến nghị để góp phần nâng cao năng lực thông hiểu và làm chủ truyền thông cho nhóm công chúng đặc biệt này.
Lịch sử vấn đề 2. “Năng lực thông hiểu truyền thông” – Từ hướng tiếp cận lý thuyết Tại Việt Nam, năng lực thông hiểu truyền thông (media literacy) hiện nay vẫn còn là địa hạt nghiên cứu mới, do đó, chưa thể thống một khái niệm chung về năng lực này. Một số nhà nghiên cứu như Nguyễn Thu Giang, Bùi Việt Hà đã sử dụng thuật ngữ “tri tạo truyền thông”. Trong khi đó, trong nghiên cứu của Vũ Thanh Vân, tác giả đã sử dụng thuật ngữ “năng lực truyền thông”.
Tổ chức UNESCO gọi năng lực này là “năng lực truyền thông và thông tin”. Từ năm 2002, trong các tài liệu của UNESCO, tổ chức này thống nhất sử dụng thuật ngữ Media and Information literacy - MIL (năng lực thông hiểu thông tin và truyền thông). Có thể thấy, thuật ngữ này bao hàm năng lực thông tin và năng lực truyền thông. Trong khi năng lực thông tin bao hàm khả năng tìm kiếm, tiếp cận, tổ chức, sử dụng, truyền tải và xử lý thông tin thì năng lực truyền thông tập trung vào việc sử dụng các phương tiện truyền thông cho mục đích bày tỏ bản thân, tham gia xã hội và sản xuất thông tin.
Năm 2010, nghiên cứu “Tri tạo truyền thông một cách tiếp cận mới trong giáo dục” (Giang & Hà, 2010), tác giả Nguyễn Thu Giang và Bùi Việt Hà chuyển dịch thuật ngữ “tri tạo truyền thông” trong tiếng Việt để thay thế cho “media literacy”. Họ lý giải 2 việc sử dụng thuật ngữ “tri tạo truyền thông” bởi nó phản ánh chính xác khả năng tiếp cận, phân tích, đánh giá và sáng tạo thông điệp truyền thông. Hai nhà nghiên cứu cũng đưa ra quan điểm rằng, với một thuật ngữ mới như “media literacy” thì khai sinh ra một khái niệm mới trong tiếng Việt là hoàn toàn phù hợp. Mặt khác, tác giả Vũ Thanh Vân sử dụng thuật ngữ “năng lực truyền thông” trong cả hai công trình nghiên cứu liên tiếp: “Năng lực truyền thông của giới trẻ Việt Nam trong đại dịch Covid-19” (Vân, 2021) và “Năng lực truyền thông của công chúng: Từ quan niệm chung đến tư duy giá trị” (Vân, 2022).
Từ những dẫn chứng trên cho thấy, để xác định cách dịch chính thức trong tiếng Việt cho “media literacy” là hết sức khó khăn. Tổng hợp từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, nghiên cứu này thống nhất sử dụng cách gọi “năng lực thông hiểu truyền thông” để mô tả nhận thức và kĩ năng tiếp nhận, phân tích, đánh giá, kiến tạo và tác động truyền thông của công chúng. “Năng lực thông hiểu truyền thông” – Từ hướng tiếp cận nghiên cứu thực tiễn Cho đến nay, nghiên cứu về năng lực thông hiểu truyền thông được chia thành hai hướng chính. Thứ nhất, các tổ chức phi chính phủ, trung tâm truyền thông tổ chức các khóa học trực tuyến, cung cấp tài liệu, chỉ dẫn liên quan đến giáo dục và nâng cao năng lực thông hiểu truyền thông.
Chẳng hạn, tổ chức UNESCO cung cấp khung lý thuyết về năng lực thông tin và truyền thông, các tài liệu hướng dẫn dành cho giáo viên và học sinh về việc xây dựng chương trình đào tạo cũng như thực hành năng lực kể trên. Ngoài ra, các tổ chức như ASEAN Foundation hay Google phối hợp với các trung tâm truyền thông ở địa phương mở các khóa tập huấn nhằm nâng cao năng lực thông hiểu truyền thông (Ví dụ: Dự án NEWSSAVY, dự án đào tạo giảng viên nguồn kỹ năng số khu vực ASEAN, v. Thứ hai, các nhà nghiên cứu trên thế giới đã tiếp cận dưới góc độ khoa học nhằm đưa ra những lý luận chung về năng lực thông hiểu truyền thông và có những công trình đánh giá năng lực thông hiểu truyền thông đối với nhóm công chúng cụ thể. Các nghiên cứu của Dieter Baacke (1973), Len Masterman (1980), Sonia Livingstone (2004) đưa ra hệ thống lý luận về năng lực thông hiểu truyền thông.
Bên cạnh đó, các nghiên cứu của Koc (2016) hay Breslin (2021) đã có những bước đánh giá về năng lực thông hiểu truyền thông của các nhóm công chúng cụ thể. 3 Ở hướng thứ nhất, UNESCO đã tham gia thúc đẩy giáo dục truyền thông từ năm 1982, tổ chức này đã tập hợp các chuyên gia từ nhiều quốc gia tham dự Hội nghị Chuyên đề Quốc tế về Giáo dục Truyền thông tại Grunwald (Đức). Trong hội nghị, tuyên bố về giáo dục truyền thông được đưa ra như sau: Tổ chức chương trình tập huấn cho giáo viên nhằm nâng cao kiến thức và hiểu biết về các phương tiện truyền thông; cung cấp cho họ những phương pháp giảng dạy phù hợp; khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và phát triển về tâm lý học, xã hội học và khoa học truyền thông để mang lại lợi ích cho giáo dục truyền thông. Nó hỗ trợ và củng cố các hành động nhằm thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục truyền thông.
Thêm vào đó, trong thập niên 90 của thế kỷ XX, nhiều trung tâm, hội nghị, cơ sở giáo dục về năng lực thông hiểu truyền thông được ra đời. Elizabeth Thoman (Nhà sáng lập Trung tâm Năng lực thông hiểu truyền thông - CML) đã nêu ra 5 quan điểm quan trọng: - Thứ nhất, tất cả các thông điệp truyền thông đều được “xây dựng”. - Thứ hai, thông điệp truyền thông được xây dựng bằng cách sử dụng một ngôn ngữ sáng tạo với các quy tắc của riêng nó. - Thứ ba, những người khác nhau sẽ diễn đạt một thông điệp truyền thông theo cách khác nhau.
- Thứ tư, các phương tiện truyền thông chủ yếu là các doanh nghiệp được thúc đẩy bởi động cơ lợi nhuận. - Thứ năm, phương tiện truyền thông luôn gắn với các giá trị và quan điểm. Đồng thời, Thoman cũng đưa ra ý tưởng đặt 5 câu hỏi sâu hơn liên quan đến các khái niệm trên, bao gồm: - Thứ nhất, ai đã tạo ra thông điệp này và tại sao họ gửi nó? - Thứ hai, những kỹ thuật nào được sử dụng để thu hút sự chú ý của công chúng? - Thứ ba, lối sống, giá trị và quan điểm nào được thể hiện trong thông điệp? - Thứ tư, công chúng hiểu thông điệp này khác với những người khác như thế nào? 4 - Thứ năm, điều gì đã bị bỏ qua khi thông điệp này được xây dựng và truyền tải đến với công chúng? Năm quan điểm gắn với năm câu hỏi trên đã xác lập một nền tảng mới về năng lực thông hiểu truyền thông. Một mặt giúp cho công chúng hiểu được nguồn gốc, vai trò và tác động của truyền thông.
Mặt khác, xây dựng chủ nghĩa hoài nghi và tinh thần phản biện cho công chúng mỗi khi họ tiếp nhận một thông điệp truyền thông bất kỳ.